<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-302179957027946240</id><updated>2011-07-28T15:31:34.088-07:00</updated><title type='text'>Bình Long Anh Dũng</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://anloc72.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>quanbao18</name><uri>http://www.blogger.com/profile/16305558577772188899</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>9</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-302179957027946240.post-2698589909418352872</id><published>2010-03-04T21:55:00.001-08:00</published><updated>2010-03-04T21:55:09.198-08:00</updated><title type='text'>Battle of An Lộc 1972</title><content type='html'>&lt;div xmlns='http://www.w3.org/1999/xhtml'&gt;&lt;p&gt;&lt;object height='350' width='425'&gt;&lt;param value='http://youtube.com/v/ZW_YWs_VBe0' name='movie'/&gt;&lt;embed height='350' width='425' type='application/x-shockwave-flash' src='http://youtube.com/v/ZW_YWs_VBe0'/&gt;&lt;/object&gt;&lt;/p&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/302179957027946240-2698589909418352872?l=anloc72.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anloc72.blogspot.com/feeds/2698589909418352872/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2010/03/battle-of-loc-1972.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/2698589909418352872'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/2698589909418352872'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2010/03/battle-of-loc-1972.html' title='Battle of An Lộc 1972'/><author><name>quanbao18</name><uri>http://www.blogger.com/profile/16305558577772188899</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-302179957027946240.post-4533337493335975444</id><published>2010-03-04T21:53:00.001-08:00</published><updated>2010-03-04T21:53:03.921-08:00</updated><title type='text'>South Vietnam An Loc battle 1972</title><content type='html'>&lt;div xmlns='http://www.w3.org/1999/xhtml'&gt;&lt;p&gt;&lt;object height='350' width='425'&gt;&lt;param value='http://youtube.com/v/RUK0qPYtk6E' name='movie'/&gt;&lt;embed height='350' width='425' type='application/x-shockwave-flash' src='http://youtube.com/v/RUK0qPYtk6E'/&gt;&lt;/object&gt;&lt;/p&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/302179957027946240-4533337493335975444?l=anloc72.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anloc72.blogspot.com/feeds/4533337493335975444/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2010/03/south-vietnam-loc-battle-1972.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/4533337493335975444'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/4533337493335975444'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2010/03/south-vietnam-loc-battle-1972.html' title='South Vietnam An Loc battle 1972'/><author><name>quanbao18</name><uri>http://www.blogger.com/profile/16305558577772188899</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-302179957027946240.post-1337014345565486966</id><published>2009-08-31T16:07:00.000-07:00</published><updated>2009-09-08T21:37:10.563-07:00</updated><title type='text'>CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI LÍNH TỬ THỦ AN LỘC (Phạm Phong Dinh)</title><content type='html'>&lt;p align="center"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplrahytduI/AAAAAAAAAyk/vzJ0KY8rqMs/s1600-h/CT_2706_PPD-1.png"&gt;&lt;img style="WIDTH: 234px; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375445733735233250" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplrahytduI/AAAAAAAAAyk/vzJ0KY8rqMs/s320/CT_2706_PPD-1.png" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI LÍNH TỬ THỦ AN LỘC&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Phạm Phong Dinh&lt;br /&gt;(Để nhớ lại những ngày Mùa Hè Bão Lửa – Tri Ân những Người Lính QLVNCH)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 7.7.1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đáp xuống An Lộc tuyên dương công trạng và đặc cách thăng cấp tất cả chiến sĩ tử thủ An Lộc sau gần ba tháng ác chiến với bốn sư đoàn cộng quân 5, 7, 9 và Bình Long. Trong lúc tình hình mặt trận vẫn còn rất ngột ngạt, tuy rằng các sư đoàn địch đã lùi ra xa, nhưng không có gì bảo đảm rằng sự hiện diện của vị Tổng Tư Lệnh là không nguy hiểm cho chính bản thân ông. Tổng Thống Thiệu được đích thân Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh lái xe Jeep chở đi một vòng thành phố để quan sát những đổ vỡ của chiến tranh. Tổng Thống Thiệu đã cảm khái đứng lặng thinh bên những nấm mộ chôn vội của tử sĩ và người dân An Lộc. Chiếc xe Jeep phải chạy ngang khu bến xe An Lộc để ông có thể ngậm ngùi trông thấy được một cái nghĩa trang nhỏ, đơn sơ nhưng rất tươm tất, nơi an táng hình hài của 68 anh hùng 81 Biệt Cách Dù, mà đã được đồng đội còn sống lập nên thành.&lt;br /&gt;&lt;p align="center"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplrWHB2eZI/AAAAAAAAAyc/7-JAjFleZxA/s1600-h/pic08+(Thieu+va+cac+tuong).jpg"&gt;&lt;img style="WIDTH: 320px; HEIGHT: 174px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375445657831504274" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplrWHB2eZI/AAAAAAAAAyc/7-JAjFleZxA/s320/pic08+(Thieu+va+cac+tuong).jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;Chiến thắng An Lộc mang một kích thước quá lớn, không còn của riêng dân tộc Việt Nam đánh bại đạo quân tiền phong của khối cộng sản quốc tế là binh đội Bắc Việt, mà nó còn là một biểu tượng của thế giới tự do đánh thắng chủ nghĩa cộng sản, là khúc dạo đầu báo hiệu sự hủy diệt cái chủ nghĩa quái thai đó 17 năm sau: Cuộc sụp đổ năm 1989 của Liên Sô và khối cộng sản Đông Âu. Tổng Thống Thiệu đã trân trọng trao tặng quân dân tử thủ ở cái thành phố nhỏ bé mà cang cường này một mỹ danh mà sẽ vĩnh viễn đi vào những trang sử dân tộc và cả quân sử thế giới: &lt;strong&gt;&lt;span style="color:#3333ff;"&gt;BÌNH LONG ANH DŨNG – AN LỘC ANH DŨNG&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;. Vị Tổng Thống đã vui vẻ gọi về cho phu nhân của mình, giọng hân hoan của ông có thể được nghe rộng rắp đất nước từ hàng triệu chiếc máy thu thanh:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Bà đừng chờ cơm tôi. Tôi ở đây ăn cơm với anh em chiến sĩ An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã tươi cười đứng giữa những chiến hữu của ông chụp nhiều bức hình, mà ngày hôm sau đã nằm ở trang đầu của những tờ báo Thủ Đô Sài Gòn và cả trên các báo khắp thế giới. Đó há chẳng phải là một vinh dự cực lớn mà quân dân Bình Long Anh Dũng đã xứng đáng nhận được từ chính máu xương của mình. Há chẳng phải đó là một thách thức ngạo nghễ đối với lũ âm binh què quặt của bốn sư đoàn cộng quân đang lẩn trốn đâu đó trong những cánh rừng già Miền Đông và bên kia biên giới. Há chẳng phải là một cú đấm ngàn cân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào giữa mặt cái khối gọi là “các nước xã hội chủ nghĩa anh em”. Há chẳng phải đó mà một xác nhận cuộc chiến bại nhục nhã mà tướng tá Hà Nội dù có lật lọng đến đâu cũng phải cúi đầu câm nín hay sao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiếc trực thăng phành phạch đập cánh quạt đưa Tổng Thống Thiệu và phái đoàn hùng hậu quan khách Sài Gòn ra thăm viếng đã xa dần. Nhưng đối với quân dân An Lộc, cuộc chiến đấu vẫn còn rất gian nan ở phía trước. Cộng quân đâu đã cam chịu chiến bại, các đơn vị của chúng vẫn còn lẫn quẩn bên ngoài An Lộc dội pháo quấy phá ngày đêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 22.6.1972, các đơn vị tiền phong của Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã nhảy xuống thay thế nhiệm vụ trấn thủ An Lộc cho Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Các đơn vị Sư Đoàn 5 Bộ Binh lục tục được không vận về Căn Cứ Lai Khê, trong khi các đơn vị của Sư Đoàn 18 tiếp tục đổ vào thành phố. Vẫn còn một khối lượng công tác chiến đấu ngỗn ngang đang chờ đón đoàn tinh binh tràn đầy nhuệ khí này. Đồi Gió, Đồi 169, phi trường Quản Lợi vẫn còn đang nằm trong tay quân giặc. Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và chiến sĩ Nỏ Thần Miền Đông của ông sẽ rất bận rộn trong những ngày hành quân trước mặt. Nhưng dù thế nào mặc lòng, buổi chào cờ sáng và thượng Quốc Kỳ mỗi thứ Hai luôn được Chuẩn Tướng Đảo cho cử hành trang trọng, bất chấp địch đang pháo hay không pháo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p align="center"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplrStBB2II/AAAAAAAAAyU/m6Ds_SDTQKQ/s1600-h/gen_hung.jpg"&gt;&lt;img style="WIDTH: 320px; HEIGHT: 225px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375445599309125762" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplrStBB2II/AAAAAAAAAyU/m6Ds_SDTQKQ/s320/gen_hung.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplrA33dLWI/AAAAAAAAAyM/m-EqpuFbsH4/s1600-h/pic04+(cong+dong+doi)_resize.jpg"&gt;&lt;img style="WIDTH: 320px; HEIGHT: 207px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375445292984118626" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplrA33dLWI/AAAAAAAAAyM/m-EqpuFbsH4/s320/pic04+(cong+dong+doi)_resize.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;Trong những ngày ngột ngạt đó, phóng viên chiến trường Lưu Văn Giỏi nhận lệnh của Bộ Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hòa nhảy xuống An Lộc để ghi nhận những đổ nát của chiến tranh, những hoạt động âm thầm của những người lính bay Không Quân và người lính Bộ Binh, cùng quân dân An Lộc đã chiến đấu anh dũng như thế nào, đang và sẽ chiến đấu ra sao, cùng những mất mát não lòng. Anh Lưu Văn Giỏi từng là Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Toronto, Canada nhiều nhiệm kỳ. Anh đã về hưu từ lâu và vui thú điền viên. Nhưng những thiên bút ký chiến trường ngày xưa của anh và những đóng góp của anh trong công cuộc đấu tranh chống cộng và tôn vinh Lá Cờ Vàng Đại Nghĩa cùng Những Người Lính QLVNCH vẫn luôn ghi khắc sâu trong lòng mỗi chúng ta. Bài viết Trên Vùng Trời Đất Nước của anh đã nhận được Giải Ba Cuộc Thi Phóng Sự Chiến Trường Năm 1973 của Cục Chính Huấn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Sư Đoàn 2 Không Quân, tôi nhận một công điện từ Bộ Tư Lệnh Không Quân gọi về trình diện gấp, vì nhu cầu công vụ, thời gian công tác và ngày về sẽ cho đơn vị biết sau. Một chiếc phản lực A37 đi công tác đưa tôi từ Nha Trang vào Sài Gòn. Tại Parking vãng lai, tôi thót lên “Honda ôm” trực chỉ Bộ Tư Lệnh Không Quân. Và nửa giờ sau tại đây tội nhận một sự vụ lệnh khác, thời gian và nơi đến là 8 ngày tại An Lộc. Tờ mờ sáng hôm sau, tôi có mặt trên bãi đậu trực thăng của Sư Đoàn 3 Không Quân để đi Lai Khê. Lần đi này ngoài hợp đoàn 18 chiếc trực thăng võ trang UH, còn có 6 chiếc CH 47 (loại trực thăng khổng lồ tải hàng).&lt;br /&gt;&lt;p align="center"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Splq9A1z9dI/AAAAAAAAAyE/qqkOt753r8I/s1600-h/pic06+(LeVanHung+va+Hollingsworth)_resize.jpg"&gt;&lt;img style="WIDTH: 320px; HEIGHT: 234px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375445226673665490" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Splq9A1z9dI/AAAAAAAAAyE/qqkOt753r8I/s320/pic06+(LeVanHung+va+Hollingsworth)_resize.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Splq5mP2eJI/AAAAAAAAAx8/nY_4qws6n_A/s1600-h/pic09+(Thieu+at+nghia+trang+BCD)_resize.jpg"&gt;&lt;img style="WIDTH: 320px; HEIGHT: 241px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375445167995517074" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Splq5mP2eJI/AAAAAAAAAx8/nY_4qws6n_A/s320/pic09+(Thieu+at+nghia+trang+BCD)_resize.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;&lt;strong&gt;30 phút ở Lai Khê&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Phi trường Lai Khê là một phi trường nhỏ được dùng làm Bộ Chỉ Huy Tiền Phương, tất cả trực thăng yểm trợ cho An Lộc đều đặt ở đây để tiện đường cho quân bạn tải quân, tải hàng đến, và nhất là để thu ngắn đường chim bay đến An Lộc. Tại đây, dưới những gốc cao su già có những hàng cơm, hàng nước kiểu dã chiến, vài hoa tiêu mắc võng nằm nhai bánh mì chờ... thời tiết. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Tôi gặp Đại Úy Đào Vũ Anh Hùng, nhà văn kiêm hoa tiêu trực thăng. Thấy tôi, Hùng hỏi: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Đi làm hay đi chơi? Câu hỏi ngắn và tôi cũng trả lời gọn: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Đi làm. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Hùng moi trong túi áo bay ra một gói xôi bắp đã bẹp: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Ăn không? Tôi lắc đầu vỗ nhẹ tay lên bụng, trong khi anh nhìn tôi từ đầu đến chân: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Vào Điện Biên Phủ thứ hai mà cứ y như là đi du lịch vậy? Không có áo giáp, nón sắt thì phòng không và pháo kích nó không chê bạn đâu. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Hùng chỉ chiếc máy ảnh tôi đang mang trước ngực: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Phải có thêm một nón sắt nhỏ cho ống kính mới an toàn, nếu không thì bạn có nhiều triển vọng thất nghiệp đấy! &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Kỳ trước có một ông bạn Báo Chí lên An Lộc, khi ông ta vừa đưa máy lên ngắm thì một viên AK đã ưu ái chui vào nằm gọn trong ống kính. Cũng may là tầm đạn đã yếu nên không bị chột. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Có nhìn thấy cái cảnh phi công Việt Nam treo võng nằm tòn teng dưới những gốc cao su gậm bánh mì, cạp xôi bắp chờ phi vụ ta mới thấy thương họ. Nghỉ ngơi và ăn uống như thế mà bay như điên, bay bất kể giờ giấc và thời tiết. Có khi vừa đáp, chưa kịp nghỉ ngơi mà thấy có tên trong Phi Vụ Lệnh là lại xách nón đi bay. Cứ sáng vác tàu đi, tối vác về... Có người đi rồi không bao giờ trở lại. Cũng có người về mà trên thân tàu lổ chổ đầy dấu đạn phòng không. Cũng có người khi đã đáp an toàn trên bãi đậu rồi mới biết người xạ thủ phi hành của mình đã gục đầu trên cây đại liên mà chết tự lúc nào. Cũng có khi người hoa tiêu chánh bị phòng không ngồi chết ngay ngắn trong ghế lái trong “tư thế còn sống”, cái chết thật đẹp như cái chết của một Từ Hải mà người hoa tiêu phụ vẫn cố cắn răng để nước mắt mình lăn dài xuống má, tiếp tục bay thi hành cho xong sứ mạng đã, rồi mới về. Cũng có người phải bỏ tàu giữa rừng để về bằng một tàu khác, hoặc băng rừng lội suối, rồi năm bảy ngày sau mới về với một thể xác đói khát và đầy thương tích. Ta có thể so sánh những tiện nghi cùng số giờ bay và thành tích chiến đấu một trời một vực giữa phi công Hoa Kỳ và phi công Giao Chỉ như sau: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Pilot Hoa Kỳ không biết mắc võng ở gốc cây nằm gặm bánh mì chờ phi vụ như pilot An Nam ta. Hồi tháng 4.1972, ở mặt trận Tây Nguyên, tại Bộ Chỉ Huy của tiền đồn Tân Cảnh, tôi đã thấy một Đại Úy phi công Hoa Kỳ trong bữa cơm. Ông ta đã ăn gần nửa kí thịt với bơ, sữa, hột gà, táo, nho, rồi mới bước lên chiếc trực thăng võ trang Cobra mà cất cánh, trong khi hoa tiêu Giao Chỉ cũng trước một phi vụ nhưng chỉ... “thổi hết một cái kèn bằng bột”, rồi ngửa cổ ừng ực nước lã trong bi đông, xong... cuốn võng leo lên ghế lái, bay vù vù, bay như điên. Về số giờ bay và thành tích, ta có thể so sánh thật thà như sau : “Chiến trận Hạ Lào chính thức khai diễn ngày 8.2.1971, trong 29 ngày đầu tại đây, người Mỹ có số giờ bay cao nhất là một Thiếu Tá, 80 giờ. Trong khi đó, phi công có số giờ bay cao nhất là Trung Úy Dương Đức Ngọc, thuộc Không Đoàn 62 Chiến thuật, Sư Đoàn 2 Không Quân, 168 giờ. Người Mỹ đánh nhiều chiến xa nhất, một Trung Úy phi công phản lực, 3 chiếc. Trong khi đó Trung Úy Dương Đức Ngọc đánh 17 chiếc T54. Số giờ bay và thành tích đó đã làm vẻ vang về tinh thần chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bên cạnh quân đội đồng minh tại Hạ Lào. Trong trận này, Ngọc cũng là người lãnh đạn phòng không nhiều nhất. Một lần phi cơ anh đứng một chong chóng, phài đáp ở Đà Nẵng lúc 23 giờ 30, 3 lần khác bị gãy cánh trái và cánh đuôi, nhưng lúc bấy giờ thời tiết ở Việt Nam không cho phép, nên anh phải dẫn tàu qua Thái Lan đáp trên phi trường Nakhom – Phakhom. Sự so sánh thật thà trên đã là một chứng minh cụ thể cho ta thấy tinh thần chiến đấu cao độ của người lính Việt Nam trên đất nước nghèo nàn này. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Đồng hồ tay chỉ 7 giờ 45, trời vẫn còn xấu. Các hoa tiêu có vẻ sốt ruột, họ tụm năm tụm ba ngồi đấu láo với nhau, nói chuyện thời tiết, nói chuyện phi vụ hôm qua, chuyện hào hoa, lã lướt đêm rồi và bàn với nhau cho phi vụ sắp tới. Một nhân viên của toán Điều Không đến nói với Hùng: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Cứ cất cánh, vì An Lộc đang chờ. Tôi đứng dậy nhưng không đi với Hùng, vì anh bay tàu C and C (Hướng dẫn C and C = Command and Control và chỉ huy, không đáp). &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Tôi theo chân một hoa tiêu ra chiếc võ trang đậu ngoài bãi. Tại đây, lương thực, vũ khí, đạn dược và chiến sĩ đổ bộ đã chờ sẵn. Tôi đi chiếc tàu tải đạn. Mười phút sau tất cản những chiếc trực thăng tại đây đã bốc khỏi mặt đất và... trực chỉ An Lộc. Trên đường từ Lai Khê đến An Lộc trần mây thật thấp, sương mù còn thật mù, họ phải để đèn báo hiệu cho khỏi đụng nhau trên trời. Ngồi trên trực thăng nhìn chung quanh những chiếc võ trang đang lù lù bay theo, tôi có cảm tưởng như đây là một đàn ong khổng lồ bị vở tổ và đang di dân. Sau vài phút bay, đến một nơi quang đãng hơn, dưới mắt tôi ruộng đồng xơ xác, những hàng tre cháy xém, những hố đạn, hố bom cày nát trên ruộng đất bỏ hoang... &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;&lt;strong&gt;Nhảy xuống An Lộc&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Người xạ thủ phi hành ghé váo tai tôi: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Anh có xuống không? &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Tôi gật đầu. Anh ta lại nhìn tôi với vẻ ái ngại như thầm hỏi tôi sao không có áo giáp và nón sắt, nhưng... tôi lờ đi. Bỗng anh khom lưng chỉa mũi minigun xuống đất bấm cò. Những hồi đạn rú dài như... bò rống. Tôi thấy... rức tim khi những vệt lửa từ dưới xẹt lên quanh phi cơ. Xung quanh tôi, năm chiến sĩ bộ binh thuộc Sư Đoàn 18 cũng... lên đạn. Tôi cũng nhét vội băng đạn vào khẩu Colt của mình cho vững bụng. Đang bay, tàu bỗng xà xuống đột ngột rồi bất ngờ đáp vội trên Quốc Lộ 13, “càng” chưa chạm đất, mấy quả đạn pháo kích đã ào ào bay tới rớt quanh đó làm gãy mấy cây cao su. Tôi nhảy vội theo năm chiến sĩ rời thân tàu và lăn tròn qua mặt lộ nằm gọn dưới một hố bom. Chúng tôi chưa kịp xô hàng xuống, thì tàu đã bốc vội lên cao bay mất hút, một trái dạn khác rớt ngay chỗ phi cơ vừa đáp làm banh xác cái ba lô vô tội của một chiến sĩ vừa quăng xuống. Mấy bịch gạo xấy tung tóe trắng mặt đường. Tôi nằm dưới hố bom mà thầm nghĩ : “Người Mỹ đã dạy cho người Việt biết đánh giặc bằng trực thăng, nhưng còn lâu sự khôn lanh của họ mới bằng sự nhanh nhẹn của người Việt Nam và... có lẽ chừng nào người Mỹ biết ăn trầu, thì họ mới có đủ được kinh nghiệm của chiến trường Việt Nam. Vì nếu lơ mơ không bốc lên kịp, thì chiếc trực thăng kia với một núi đạn 81 ly trong đó sẽ lãnh đủ trái đạn pháo vừa rồi. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Tôi nhìn theo chiếc trực thăng đã mất hút ở cuối bìa rừng cao su, như hiểu ý, một người nằm gần nói với tôi : &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Cứ nằm đây chờ, chút nữa hết pháo họ sẽ đến. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Tôi hỏi lại: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Nhỡ đến mà nó pháo nữa thì sao? &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Anh ta thản nhiên: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Trúng thì rớt, không trúng thì bay đi. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Sau câu nói này, tôi nhớ lại cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Nhàn thuộc Phi Đoàn CH47 của Sư Đoàn 3 Không Quân trước đây một tuần tại mặt trận An Lộc. Trong một phi vụ tiếp tế, tàu của Nhàn bị trúng phòng không, bạn bè bay theo bảo anh rời vòng chiến ngay và đáp ép buộc chờ trực thăng võ trang cứu. Nhưng anh đã trả lời: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Biết rồi, để thả hết hàng cho họ đã. Họ bị thiếu tiếp tế từ mấy ngày nay, không lẽ mình vượt bao nhiêu màn lươi phòng không mới vào được đây, mà bây giờ lại ra sao? &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Anh chỉ trả lời như thế rồi tiếp tục vào vòng yểm trợ. Khi số hàng còn lại trên tàu vừa thả được xong, thì cũng là lúc chiếc CH47 anh đã nằm gọn trong màn lưới phòng không. Thiếu Tá Mai là bạn của anh bay gần đó đã nghe được những lời cuối cùng của anh qua hệ thống vô tuyến : “Hàng thả hết rồi, nhưng tất cả hệ thống điều khiển trong phòng lái đã ngưng hoạt động. Bây giờ tao đáp ép buộc đây, tụi mày hãy theo tao cover thật kỹ và pick-up thật nhanh... “. Nhưng không còn kịp nữa, anh vừa nói xong thì chiếc trực thăng đã như một bó đuốc khổng lồ từ trời cao rơi xuống nổ tung trên mặt đất, và anh đã chết theo tàu... Tôi và các chiến sĩ vẫn nằm trốn đạn và chờ trực thăng đến. Quanh đó, vài chiến xa T54 nằm chỏng trơ, vài chiếc khác nằm chúi đầu xuống những hố bom, phía sau tôi là rừng cao su trùng điệp. Trong phút chốc tàu bốc vội lên mây, mất hút ở cuối một khúc quanh của con lộ 13. Vài tràng đạn AK đuổi theo, mấy quả đạn pháo kích khác rớt quanh đó như xé gió phá rừng, những thân cây lại thi nhau gãy rôm rốp. Mấy thùng đạn vừa được đem xuống vẫn còn nằm trên quốc lộ. Một anh kéo tôi đi nơi khác: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Hãy tránh xa đống đạn này, đạn pháo kích mà nó rớt vào đây thì... bỏ bu. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Từ hướng Xa Cam, một đoàn người gồng gánh, bồng bế nhau chạy loạn về hướng chúng tôi. Tức thì mấy quả đạn pháo kích được câu đến từ Đồi Gió rớt vào giữa đám dân chạy loạn này, gây vô số người chết, vô số người bị thương. Có những người bị thương cách đây vài giờ lại bị thương nữa. Có những người sắp chết, muốn được chết cho rảnh tay người thân chạy nạn, thì bây giờ được chết. Trong số những người chết này, một cảnh tượng thật thương tâm đã xảy ra ngay trên bìa rừng cao su An Lộc. Một người mẹ bồng đứa con khoảng sáu tháng bị mảnh pháo phá vỡ khuôn ngực và bà ngã ra chết liền tại chỗ. Đứa nhỏ không chết, cũng không bị thương, nó bò trên bụng mẹ khóc thét lên trong sự hãi hùng. Khóc mệt, nó lại gục đầu vào ngực mẹ nó mà bú. Một người khác cũng dân chạy loạn đến bế nó ra, thì mặt mũi của đứa bé bê bết máu của mẹ nó và trong mồm nó cũng có máu, mà có lẽ nó tưởng đó là chất sữa nên đã hút vào. Một lúc sau đứa bé cũng chết luôn trên tay người bế nó. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Một cảnh tượng khác mà tôi cũng không làm sao quên được. Một đứa bé gái khoảng13 tuổi mù hai mắt, gầy yếu xanh xao, cõng thằng anh nó khoảng 15 tuổi trên lưng, bị cụt một chân. Đứa nhỏ mù mắt cõng đứa lớn cụt chân. Đứa cụt chân ngồi trên lưng đứa mù mắt để chỉ đường mà chạy trốn Việt cộng. Trong xách tay tôi còn hai ổ bánh mì mua hồi sáng ở Lai Khê, tôi lấy đưa cả cho anh em nó. Trước đây tôi đã được đọc những câu in trên bích chương dán ở thành phố : “... Pháo kích bừa bãi, giết hại dân lành, nhà cháy người chết, thù hận này biết đến bao giờ mới nguôi ngoai trong lòng người dân Việt... “. Dạo đó tôi đã nghĩ rằng những câu này chỉ là về phương diện chính trị thôi. Nghĩa là Việt cộng xuyên tạc mình thì mình xuyên tạc lại. Nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu đó là sự thật, một sự thật mà không thể đội trời chung với bọn người dã man đó được, và tự nhiên trong lòng tôi thấy dâng lên những thù hận ngút ngàn. Thật tình mà nói, trước khi bước vào An Lộc, tôi đã thầm nghĩ : “Mình chỉ chết khi bị trúng đạn, chứ nếu đối diện gần thì trên ngực áo tôi có hai chữ Báo Chí “nó” không giết đâu mà sợ, cao lắm thì chỉ bắt sống là cùng. Nhưng bây giờ thì tôi không còn nghĩ như thế nữa. Trước mặt tôi, chung quanh tôi, những người dân vô tội đang thương vong la liệt. Tôi sờ tay vào hông, khẩu Colt vẫn cồm cộm. Tôi quyết định : “Nếu đêm nay còn phải ở đây mà rủi gặp bọn chúng, thì dù thế nào tôi cũng đẩy về hướng chúng 6 viên và còn lại là cho tôi, chứ nhất định không để bị bắt sống. Nghĩ đến đây, hình ảnh vợ con tôi tại trại gia binh lại hiện ra, tôi thấy nhói trong lòng. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Từ xa có tiếng đập phần phật của trực thăng, rồi trong phút chốc 8 chiếc lượn sát những ngọn cao su và cũng bất thần đáp dài trên quốc lộ, trong khi đạn pháo kích của Việt cộng tiếp tục rải dài theo hai bên bìa đường. Các chiến sĩ đổ bộ thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh lẽ ra khi nhảy xuống thì họ di tản, nhưng họ đã đến phụ khiêng xác chết và người bị thương lên phi cơ xong mới đi. Tôi ngồi tựa lưng vào xích của một chiếc T54 bỏ hoang nhìn theo mấy chiếc trực thăng đang bốc vút về hướng Lai Khê mà trong đó có gần 100 người dân vô tội vừa chết, vừa bị thương, vừa kinh hoàng... Cộng sản Bắc Việt vừa sát hại xong dân lành vô tội bằng công cụ giết người của chúng, thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến mang những người dân đó về nơi an toàn... Từ hướng Chi Khu An Lộc, một chiếc Jeep mui trần chở gần 20 đồng bào tiến về hướng bãi đáp trực thăng. Tôi quá giang chiếc Jeep này vào Chi Khu và tại đây tôi được gặp Đại Úy Lê Văn Vẫn, Chi Khu Phó Chi Khu An Lộc. Đại Úy Vẫn cho biết ông là người ở đây lâu nhất (bốn đời Quận Trưởng đã thay phiên nhau) từ năm 1964. Và bây giờ ông nhất định ở đây chiến đấu đến hơi thở cuối cùng chứ không đi đâu hết. Ông kể tiếp: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Ngày mặt trận An Lộc mở màn có 6 chiếc trực thăng của Sư Đoàn 3 Không Quân đến đáp vào Chi Khu để đưa gia đình của quân nhân tại đây rời An Lộc. Tôi chạy vào hầm trú ẩn nói với vợ tôi : “Có trực thăng đến, em mau đưa các con về Sài Gòn, ở đây nguy hiểm lắm. Khi nào êm, anh sẽ về đưa mẹ con em lên. Nhưng vợ tôi nhứt định không chịu và trả lời : “Mẹ con em về nơi an toàn, ở đây rủi anh chết thì mẹ con em sống với ai ? Em xin được ở lại đây cùng sống chết với anh”. Trong lúc đó vợ con của anh em quân nhân tại đây đều đã nhất loạt trả lời như thế, nên cuối cùng sáu chiếc trực thăng phải rời Chi Khu mà không có đàn bà trẻ con nào theo... “ Sau câu nói của Đại Úy Vẫn, tôi chợt nhớ lại gương liệt nữ Phạm Thị Thàng cách đây đã lâu. Chị Thàng là vợ của một chiến sĩ Nghĩa Quân. Chị và các con đều sống chung trong công sự chiến đấu của chồng trong làng. Một đêm nọ Việt cộng công đồn, chồng chị bị trúng đạn, chi thay chồng tung mấy chục trái lựu đạn vào đám Việt cộng khi chúng tấn công bằng biển người. Nhưng đến quả cuối cùng, bọn chúng quá gần nên chị đã chết chung với thêm mấy tên Việt cộng nữa bằng quả lựu đạn đó. Bây giờ vợ lính ở An Lộc cũng đã noi gương chị Thàng không chịu đi Sài Gòn ở lại tử thủ: sống chết với chồng con tại An Lộc. Đại Úy Vẫn tiếp: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Sáu chiếc trực thăng vừa bốc lên thì một chiếc bị trúng đạn và rớt ngay bên ngoài vòng đai Chi Khu rồi bốc cháy. Chúng tôi nhìn theo mà đã khóc lúc nào không hay. Anh em Không Quân đã vì sinh mạng gia đình chúng tôi mà phải chết, tôi kính trọng và nhớ ơn nghĩa cử của quí anh em đó lắm. Cuối cùng tôi quyết định cho một trung đội mở đường máu ra cứu phi hành đoàn, nhưng cũng không kịp. Khi trung đội trở vào thì... chỉ còn phân nửa quân số, bởi lúc bấy giờ chiến xa Việt cộng quá nhiều. Rồi hai hôm sau, trai gia binh của chúng tôi tại đây cũng bị pháo kích nặng, hơn tám chục phần trăm gia đình của quân nhân chết và bị thương... &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;&lt;strong&gt;Gà trống nuôi con&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Trong khi ngồi tiếp chuyện với tôi tại một căn hầm dã chiến được đào sâu dưới mặt đất, trước mặt tôi là Đại Úy Vẫn, quanh đó khoảng năm, bảy chiến sĩ mà mỗi người đang có vài em bé quấn qúit bên cạnh. Đại Úy Vẫn xoa đầu một bé gái khoảng 4 tuổi: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Tôi có năm đứa, bây giờ chỉ còn mình nó, anh chị nó chết hết rồi, má nó cũng chết, ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại nó cũng chết trong trận pháo kích đó... &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Ông chỉ những đứa bé đang đứng cạnh mấy chiến sĩ quanh ông: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Đấy anh xem, bây giờ ở đây cái cảnh gà trống nuôi con rất nhiều. Cha mẹ và vợ con chúng tôi đã vì chúng tôi mà chết tại đây, nên chúng tôi đã thề tử thủ tại đây đến hơi thở cuối cùng, dù có được đổi về Sài Gòn cũng không đi. Nếu một ngày nào đó mà anh gặp lại một trong những khuôn mặt của chúng tôi tại đây trên một địa danh an toàn nào đó không phải là An Lộc mà lúc đó chúng tôi còn tại ngũ thì... anh có quyền giết chúng tôi, nếu không phải là Lệnh hay Chỉ Thị cho chúng tôi rời An Lộc. Hôm nay anh là người Báo Chí của Không Quân đầu tiên đến đây, tôi xin được đại diện các chiến sĩ tử thủ An Lộc gửi đến anh em Không Quân, nhất là những phi hành đoàn đã lái tàu bay vào Chi Khu với ý định đưa vợ con chúng tôi đến nơi an toàn, những lời thành thật muôn đời nhớ ơn của chúng tôi, mặc dù vợ con chúng tôi không đi và... đã chết. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;&lt;strong&gt;Những chiếc vòng tử thủ&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Nói đến đây Đại Úy Vẫn gỡ trong tay của ông ta ra 3 chiếc vòng trao cho tôi: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Tất cả những chiến sĩ tử thủ tại đây mỗi người đều có mang ba chiếc vòng này và chúng tôi đã đặt tên là... vòng AN LỘC TỬ THỦ. Nay tôi xin tặng anh để làm kỷ niệm... Anh là người thứ hai, sau Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa mà chúng tôi tặng ba vòng này. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Một Thiếu Úy ngồi gần đó nhìn Đại Úy Vẫn rồi nói với tôi: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Anh có viết bài thì nhớ nói là Thiếu Tá, vì ổng lên lon gần hai tháng nay, nhưng từ đó đến nay ở đây không ai bán “lon” mà mua nên... ông Vẫn “vẫn” mang “lon cũ”. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Tôi nhìn Đại Úy Vẫn như thầm hỏi lại: “Có đúng thế không ? “. Thiếu Tá Vẫn gật đầu: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Đúng vậy. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;&lt;strong&gt;68 Ngày tử thủ An Lộc không lãnh lương&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Cũng tại đây, tôi gặp một chiến sĩ còn rất trẻ, anh ta tâm sự với tôi như sau: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Em là Binh Nhất Lê Nhâm Thình, quân nhân Không Quân, thuộc Sư Đoàn 2 Không Quân tại Phù Cát, kỹ thuật phi cơ loại C 7A. Về phép thăm nhà hôm 28.3.1972 rồi bị kẹt lại đây đến bây giờ. Trọn gia đình em bị pháo kích chết hết rồi, chỉ còn lại một người anh đang tại ngũ tại An Lộc này thôi. Đã nhiều lần em muốn ra đón tàu để về lại với Không Quân, nhưng còn ngại sẽ bị rắc rối về an ninh nên chưa dám. Tính đến nay là 68 ngày, trong suốt thời gian này tại đây em đã chiến đấu như một chiến sĩ Bộ Binh thật sự, nhưng chỉ ăn nhờ cơm gạo sấy của anh em ở đây thôi chứ không có lãnh lương. Em có lấy được một AK của tên Việt cộng mà em đã bắn chết nó. Hôm nào về Sài Gòn, nhờ anh trình lên Bộ Tư Lệnh Không Quân, nếu không bị rắc rối, anh viết thư về đây, KBC 6995, lúc đó em sẽ bằng đủ mọi cách về trình diện đơn vị... &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Buổi chiều, tôi có dịp vào thị trấn An Lộc. Phố xá thật tiêu điều, những căn nhà không người trơ vách, những tuyến kẽm gai quanh Chi Khu cháy cong queo. Đó đây một vài xác trực thăng cháy xụm, những chiến xa đứt xích nằm chỏng chơ như quái vật không đầu, vài chiếc khác chúi mũi xuống những hố bom, một chiếc dù màu trắng đỏ phất phơ theo chiều gió trên ngọn cao su. Những chiếc dù tải hàng còn vương vãi theo hai bên quốc lộ, trên mặt con lộ 13 những hố đạn, hố bom sâu hoắm. Những vỏ đạn đủ cỡ, đủ loại nằm ngỗn ngang, những thân cây cao su cháy đen ngã gục. Trong vòng đai Chi Khu, một bức tường dầy và cao lổ chổ đầy vết đạn lớn nhỏ mà phía trên còn đọc được ba chữ “ QUẬN AN LỘC “. Gần đó, một vách tường khác có dấu hồng thập tự với ba chữ “TRẠM CỨU THƯƠNG “, phía sau là một trường tiểu học bị tróc nóc. Xa hơn một chút là trại gia binh An Lộc cũng đã điêu tàn. Bước ra phía ngoài, một xe Honda bốn bánh nằm lật ngang, bên hông có cẩn thận ghi hai chữ thật lớn “XE NHÀ” bằng sơn màu trắng và... một chữ “BINH ” viết bằng đất đỏ An Lộc. Tôi thầm cười, trạm cứu thương, trại gia binh, nhà thờ, chùa chiền và đàn bà trẻ thơ vô tội còn phải lãnh đạn pháo kích của “quân giải phóng”, thì... “Xe Nhà Binh” sức mấy mà thoát khỏi, sao không đề là... “XE CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG“. Tôi đâm ra phục lối chơi chữ hay hay của người nào đó đã viết thêm chữ “ BINH“ sau hai chữ “XE NHÀ “ này. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;&lt;strong&gt;Châu chấu đá voi&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Cách cổng vào Chi Khu An Lộc khoảng hai cây số, một chiếc xe cần cẩu của tư nhân màu vàng nằm chắn ngang một nửa mặt con lộ 13, một chiếc khác nằm trơ bánh lên trời dưới mé lộ. Được biết, trong những ngày đầu sôi động của An Lộc, khổ chủ hai chiếc xe trên đã tình nguyện đem ra cho “đâu đít lại với nhau” nằm chắn ngang lộ, với ý định không cho chiến xa của Việt cộng vào thị trấn An Lộc thân yêu của họ. Vì họ đã nghĩ rằng, một khi mà chiến xa của Việt cộng vào được trong thị trấn thì dù cho xe cần cẩu của họ có để trong nhà cũng không còn. Nhưng... kết quả T54 của Việt cộng là voi, mà xe cần cẩu của họ là châu chấu! &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;&lt;strong&gt;Thoát chết nhờ lối tuyên truyền láo của Việt cộng&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Gần vòng đai Chi Khu vài chục thước, mấy chiếc T54 nằm quay đầu ra bất động. Hỏi, thì một chiến sĩ cho biết như sau: &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;- Dạo đó, khi An Lộc bị thất thủ, hàng chục chiến xa Việt Cộng đã phây phây đi vào và các tay xạ thủ cũng đã phây phây ngồi hẳn phía trên xe. Chúng tôi lúc đó chỉ còn hơn đại đội, nấp dưới những hầm hố, không dám bắn trước. Nhưng chúng tôi lấy làm lạ, không hiểu tại sao những chiến xa này không khai hỏa mà chỉ vào đậu đó, xong chạy vòng vòng, thật chậm như có ý tìm kiếm rồi quay ra và... khi chúng quay đầu xe ra, bọn tôi xách M72 chạy theo hạ hết. Thứ này mà bắn vào đứt xích là nằm liền. Các trưởng xa và xạ thủ thoát khỏi xe cũng bị chúng tôi hạ luôn, có vài tên bị chúng tôi bắt làm tù binh và chúng cho biết : Sở dĩ khi chúng đưa xe vào tận đây mà không khai hỏa, vì trước khi vào đây, cấp chỉ huy đã cho chúng biết, hiện An Lộc hoàn toàn do quân giải phóng kiểm soát và... làm chủ tình hình, nên chúng vào và cứ tự nhiên ngồi trên nóc xe như “người quân nhân trở về đơn vị” và chạy vòng vòng là có ý đi tìm “đồng chí”. Đến khi tìm mà không gặp được đồng chí nào hết nên mới lừng lững quay ra, và khi quay ra thì mỗi chiếc bị lãnh vài viên M72 từ mặt hậu rồi đứt xích luôn không thể quay đầu lại. Bởi thế mà anh thấy những chiến xa quanh vòng đai này phần đông đều quay đầu ra. Còn những chiếc khác xa xa thì lại quay đầu vào, những chiếc này hầu hết là lãnh bom và rocket từ phi cơ. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Nghe xong câu chuyện, tôi thầm nghĩ: “Bọn cộng sản Bắc Việt ngoài lối thí quân, nướng quân bằng những cuộc tấn công biển người ồ ạt của chúng, mặc cho hỏa lực khủng khiếp từ phi cơ ta “làm cỏ”, nay chúng có thêm một lối “nướng quân” bằng cách tuyên truyền láo với quân sĩ thuộc quyền. Bởi nếu chúng không nói láo với quân sĩ của chúng thì anh lính này đâu còn sống đến ngay nay để kể lại giai thoại “chiến xa Việt cộng phây phây vào sào huyệt ta đi tìm “đồng chí”, để rồi khi quay đầu ra vừa khỏi vòng đai, thì... nằm đây luôn đến bây giờ. Trong lúc vui miệng anh lại kể cho tôi nghe thêm một vài chuyện khó tin, nhưng tại đây lại... có thật. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;&lt;strong&gt;Trong thời gian tử thủ bệnh táo bón rất quí&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Có những lúc bên ngoài nó pháo rát quá, hầm trú ẩn thì nhỏ, mà anh em lại quá đông, đôi khi muốn đi cầu lại ngại lãnh đạn, nên chúng tôi cứ... “cố nín, cố nín”. Đến khi không thể nín được mà bên ngoài vẫn còn pháo, thì dùng... lớp trong của nón sắt làm cái “bô”. Xong, đứng ở miệng hầm liệng ra ngoài. Có người chỉ mới hai ngày đã liệng luôn cả hai lớp của nón sắt, nên ở đây mà trong thời gian đó ai có được cái bệnh táo bón là quí như vàng, thảnh thơi lắm. Mà tóm lại trong thời gian đó, người nào có táo bón mấy đi nữa thì cũng phải có một lần “liệng nón sắt”. &lt;/p&gt;&lt;p align="left"&gt;Một giai thoại khác: “TẮM BẰNG MỒ HÔI“, vì tại đây nước rất quí, quí hơn vàng, có khi phải dùng đến nước tiểu để làm “nở cơm sấy” khi ăn. Có nhiều người chịu không nổi phải bịt cả hai lổ mũi, nhai sơ rồi nuốt vội như cố “tống cơm vào bao tử” cho xong để có sức mà... tử thủ nhưng không dám ăn nhiều, vì nếu ăn nhiều thì trời sẽ không cho được cái bệnh táo bón. Bởi nước quí như vàng, nên trong thời gian đó lúc nào thấy êm, ai muốn tắm thì cứ cử tạ bằng cách bưng một thùng đạn nặng trịch đưa lên, đưa xuống cho đổ mồ hôi. Xong cởi ngay quần áo ra... ung dung ngồi kỳ đất trên da nở ra và rất dễ... “TẮM BẰNG MỒ HÔI“. Phạm Phong Dinh &lt;/p&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Splq0HDwySI/AAAAAAAAAx0/P4vjPOvLZ2k/s1600-h/pic26+(trung+ta+Ho+Ngoc+Can).jpg"&gt;&lt;img style="WIDTH: 320px; HEIGHT: 286px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375445073723967778" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Splq0HDwySI/AAAAAAAAAx0/P4vjPOvLZ2k/s320/pic26+(trung+ta+Ho+Ngoc+Can).jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplqwKiuVZI/AAAAAAAAAxs/Xp-cXq9BN58/s1600-h/pic27+(trung+ta+Phan+Van+Huan).jpg"&gt;&lt;img style="WIDTH: 320px; HEIGHT: 282px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375445005939660178" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplqwKiuVZI/AAAAAAAAAxs/Xp-cXq9BN58/s320/pic27+(trung+ta+Phan+Van+Huan).jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Splqqabjo_I/AAAAAAAAAxk/vY2yQ7sJ1Wg/s1600-h/pic+07+(Nghia+trang+BCD81)_resize.jpg"&gt;&lt;img style="WIDTH: 311px; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375444907125351410" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Splqqabjo_I/AAAAAAAAAxk/vY2yQ7sJ1Wg/s320/pic+07+(Nghia+trang+BCD81)_resize.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplqcL-DlbI/AAAAAAAAAxc/DHVMKCHkdc0/s1600-h/t54_1.jpg"&gt;&lt;img style="WIDTH: 320px; HEIGHT: 206px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375444662725350834" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplqcL-DlbI/AAAAAAAAAxc/DHVMKCHkdc0/s320/t54_1.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/302179957027946240-1337014345565486966?l=anloc72.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anloc72.blogspot.com/feeds/1337014345565486966/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2009/08/chuyen-nhung-nguoi-linh-tu-thu-loc-pham.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/1337014345565486966'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/1337014345565486966'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2009/08/chuyen-nhung-nguoi-linh-tu-thu-loc-pham.html' title='CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI LÍNH TỬ THỦ AN LỘC (Phạm Phong Dinh)'/><author><name>quanbao18</name><uri>http://www.blogger.com/profile/16305558577772188899</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SplrahytduI/AAAAAAAAAyk/vzJ0KY8rqMs/s72-c/CT_2706_PPD-1.png' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-302179957027946240.post-2660729484943322117</id><published>2009-08-30T23:06:00.000-07:00</published><updated>2009-09-08T21:37:40.547-07:00</updated><title type='text'>CHIẾN THẮNG AN LỘC 1972</title><content type='html'>&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Phần 1&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Đây là cuốn sử liệu sưu tầm trên mạng. Bản quyền thuộc về các tác giả có tên phía dưới.&lt;br /&gt;Những chiến hữu và thân hữu có tên dưới đây đều có chung một Hoài Bão, bảo một Ý Chí, và một Tâm Niệm như nhau, trong công cuộc hình thành quyển sử liệu CHIẾN THẮNG AN LỘC 1972 nầy. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi, với tình huynh đệ chi binh, không nêu tên theo cấp bậc cũng như vai trò trong Ban Biên Soạn mà chỉ nêu tên theo tuổi tác. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;• Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường&lt;br /&gt;• Trung Tá Trần Văn Tính&lt;br /&gt;• Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh&lt;br /&gt;• Đại Úy Lê Hoàng Ân&lt;br /&gt;• Bà Lê Thị Kim Liễu, Đại học Rice, Houston &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Spy7ESFHQuI/AAAAAAAAA2Y/tRCTPPU9Ip8/s1600-h/TrungtuongNguyenVanMinh.JPG"&gt;&lt;/a&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3XR_1XGSI/AAAAAAAAA24/QVEirRTo2pU/s1600-h/TrungtuongNguyenVanMinh.JPG"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 240px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376690234343233826" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3XR_1XGSI/AAAAAAAAA24/QVEirRTo2pU/s320/TrungtuongNguyenVanMinh.JPG" /&gt;&lt;/a&gt;Tâm Thư của Trung Tướng NGUYỄN VĂN MINH. Nguyên Tư Lệnh Quân Đoàn 3/Quân Khu III. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Tôi sống ẩn dật trên đất Mỹ đã trên 30 năm, tuổi đời đã gần 80, bỗng nhiên nhận được bức tâm thư của nhóm anh em Quân Nhân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hiện cư ngụ tại Tiểu Bang Texas, gửi cho tôi, để hỏi ý kiến về việc thực hiện cuốn sách “Trận Chiến Thắng An Lộc năm 1972”. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Đọc xong bức Tâm Thư, lòng tôi rất bồi hồi, tưởng nhớ lại những chuyện xảy ra xa xưa trong cuộc đời Binh Nghiệp của mình, nhất là Trận An Lộc, tinh thần và ký ức phấn chấn trở lại, sau bao nhiêu năm tháng, ngỡ như mọi sự việc đã được vùi sâu tận cõi lòng của một con Người đang sống lưu vong, tha hương từ lâu nay rồi. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Đọc nội dung bức Tâm Thư, cá nhân tôi rất cảm kích tinh thần bất vụ lợi, mang đầy ý nghĩa cao cả, hy sinh cho đại cuộc, của nhóm Anh Em Quân Nhân tại Texas, với hoài bảo là làm sáng tỏ Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, nhất là cuộc chiến đấu kiên trì và oai hùng của tất cả Quân Dân Cán Chính Tỉnh Bình Long vào năm 1972, để lưu truyền lại cho các Thế Hệ con cháu mai sau. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Từ đó tôi vội vàng moi trí nhớ, lục lại được một số giấy tờ và sách báo của những thông tin Việt, Pháp, từ năm 1972 đã viết và khen ngợi Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có tham dự trong trận chiến An Lộc, đã kiên trì và anh dũng đánh bại 4 Sư Đoàn quân Cộng Sản phương Bắc vào năm 1972, mà tôi còn lưu trữ, và liền gửi những tài liệu có liên quan đến Trận An Lộc, cho người đại diện theo địa chỉ ghi trong Bức Tâm Thư, kèm theo đôi dòng ca ngợi và khuyến khích.&lt;br /&gt;Tôi thành thật cám ơn tất cả các anh em đã hỏi ý kiến của tôi, và cầu chúc các Anh Em trong nhóm chủ trương biên tập, vượt qua mọi trở ngại khó khăn, để đạt đến mục tiêu cuối cùng, đúng theo như ý nghĩa của Bức Tâm Thư, và mong rằng có nhiều Quân Nhân cũng như các Công Dân Việt Nam Cộng Hòa khác, những ai đã từng chiến đấu hay chứng kiến suốt 93 ngày đêm, trong nội ngoại vi Tỉnh Bình Long, nên nhiệt tình hưởng ứng lời kêu gọi đầy ý nghĩa chính đáng này, của nhóm Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tại Tiểu Bang Texas.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Chúc Anh Em Thành Công Trọn Vẹn.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Ngày 10 tháng 11 năm 2006 &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Trung Tướng Nguyên Văn Minh&lt;br /&gt;Cựu Tư Lệnh Quân Đoàn 3/Quân Khu III &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CHƯƠNG 1 - TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;A- TÀI LIỆU ĐƯỢC GIẢI MẬT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT- NAM VÀ CÁC SÁCH BẰNG TIẾNG MỸ&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;* COMBINED ARMS RESEARCH LIBRARY (tài liệu này được giảng dậy tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp của Quân Đội Hoa Kỳ, Fort Leavenworth)&lt;br /&gt;* A BETTER WAR (The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s last years in Viet Nam) của tác giả Lewis Sorley : giáo sư của Trường West Point và Trường Đại Học Chiến Tranh Bộ Binh, đồng thời thuộc Ban Tham Mưu của Bộ Quốc Phòng. Sau đó ông trở thành công chức cao cấp của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương.&lt;br /&gt;* AMERICAN’S LAST VIETNAM BATTLE của Dale Andradé&lt;br /&gt;* THE EYEWITNESS HISTORY OF THE VIETNAM WAR 1961-1972 của GEORGE ESPER (THE ASSOCIATED PRESS)&lt;br /&gt;* THE VIETNAM WAR DAY BY DAY của JOHN BROWMAN&lt;br /&gt;* AFTER ACTION REPORT, “THE BATTLE OF LOC- NINH” của Thiếu Tá Mark Smith (cố vấn của Trung Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà tại Lộc Ninh năm 1972)&lt;br /&gt;* THE BATTLE OF AN LOC của tác giả James H. Willbanks, cố vấn của Chiến Đoàn 52, Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà tại An Lộc năm 1972 &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;B- TÀI LIỆU VÀ NHỮNG SÁCH BẰNG TIẾNG VIỆT&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;* Nhật Ký Hành Quân của Quân Đoàn 3/Quân Khu III ghi về Trận Chiến An Lộc năm 1972 :&lt;br /&gt;• Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn 3 Quân Khu III kiêm Tư Lệnh Chiến Trường An Lộc&lt;br /&gt;• Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh, Phụ Tá Hành Quân Tư Lệnh đặc trách Chiến Trường Ngoại Biên và An Lộc&lt;br /&gt;• Trung Tá Huỳnh Văn Bé, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Hành Quân Quân Đoàn 3/Quân Khu III&lt;br /&gt;* TRUNG ĐOÀN 8 BỘ BINH VÀ TRẬN CHIẾN AN LỘC của Chuẩn Tướng MẠCH VĂN TRƯỚNG, Nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, cựu Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8 Sư Đoàn 5 Bộ Binh&lt;br /&gt;* THIÊN ANH HÙNG CA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ của Phạm Phong Dinh (về Sư Đoàn 18 Bộ Binh, tác giả trích từ cuốn băng cassette của Tướng Lê Minh Đảo gửi cho tác giả).&lt;br /&gt;* AN LỘC ANH DŨNG của nhà xuất bản Đại Nam phát hành năm 1972&lt;br /&gt;* VIỆT NAM THÔNG TẤN XÃ (các bản tin liên quan tới Trận AN LỘC và trích bản của sách báo ngoại quốc ca tụng về Trận AN LỘC)&lt;br /&gt;* LỮ ĐOÀN 1 NHẨY DÙ của Vương Hồng Anh&lt;br /&gt;* AN LỘC – MÙA HÈ ĐỎ LỬA của Phan Nhật Nam&lt;br /&gt;* Tưởng niệm 30 tháng 04 : tử chiến với Cộng Quân trước giờ G do Vương Hồng Anh tổng hợp trích trong bản tin Việt Báo ngày 30 tháng 04 năm 2004 (Mục Tham Khảo)&lt;br /&gt;* “Mẹ Viêt Nam ơi, dân ta có tộI tình gì” của tác giả Pierre Darcourt, do Dương Hiếu Nghĩa dịch thuật, trích trong Đặc San “Thế Giới” tháng 05 năm 2004, trang 22, chương XIII.&lt;br /&gt;* Hồi ký của Thượng Tướng Cộng Sản Bắc Việt Hoàng Cầm : ”Chặng Đường Mười Nghìn Ngày”. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;C- CÁC MẠNG LƯỚI TOÀN CẦU:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;* BIỆT ĐỘNG QUÂN QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ&lt;br /&gt;* BIỆT CÁCH DÙ VÀ LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ&lt;br /&gt;* WEBSITES của Viện Đại Học Rice, Houston, Texas : những bài liên quan đến trận chiến An Lộc và cuộc chiến tranh Việt Nam do bà Lê Thị Kiêm Liễu sưu khảo và biên soạn.&lt;br /&gt;* WEBSITE “VIỆT NAM LỊCH SỬ 1954-1975”* 362avnco.com.anloc1.html&lt;br /&gt;* freevb.org/qlvnch/Jennifer/anloc_e1.html &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;D- TÀI LIỆU CỦA NHỮNG NHÂN CHỨNG SỐNG&lt;/strong&gt; đã từng trực tiếp chiến đấu hoặc có mặt tại An Lộc trong thời gian cuộc chiến, hiện đang có mặt tại Tiểu Bang TEXAS, CALIFORNIA và tại các tiểu bang khác trên đất nước Hoa Kỳ cũng như đang cư ngụ tại Pháp, Úc, Canada và các nước tự do khác trên thế giới, v.v… gửi về cho Ban Biên Soạn ở Tiểu Bang TEXAS, Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3VnGOWuGI/AAAAAAAAA2g/NUgokGE27Rs/s1600-h/bando1.bmp"&gt;&lt;img style="TEXT-ALIGN: center; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 181px; DISPLAY: block; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376688397812676706" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3VnGOWuGI/AAAAAAAAA2g/NUgokGE27Rs/s320/bando1.bmp" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;CHƯƠNG 2 - BỐI CẢNH MÙA HÈ ĐỎ LỬA&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;MÙA HÈ ĐỎ LỬA, một mùa hè thời gian dài như thế kỷ đối với người dân cũng như người Chiến Sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong năm 1972. Mùa Hè Đỏ Lửa, bắt đầu vào ngày 30 tháng 03 năm 1972, khi Quân Cộng Sản Bắc Việt xua toàn bộ 14 Sư Đoàn quân chính quy, khoảng 120,000 quân Bộ chiến + 1200 chiến xa đủ loại, chia làm 3 mũi tấn công vào lãnh thổ nước Việt Nam Cộng Hoà của chúng ta tại BA mặt trận : QUẢNG TRỊ (30 Tháng 03); KONTUM (14 Tháng 04), và AN LỘC, TỈNH BÌNH LONG (05 Tháng 04 năm 1972). (1)&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Chú thích (1) :“Thiết Giáp! The Battle of An Lộc, April 1972”, tác giả Trung Tá James H. Willbanks. Combined Arms Research Li- brary (Command and General Staff College). Đề mục The North Vietnamese Strategy trang 8-10/64.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Kết cuộc là Quân Cộng Sản Bắc Việt đã bị QUÂN DÂN VIỆT NAM CỘNG HOÀ anh dũng đánh lui toàn bộ. Địch quân đành phải chịu ngậm đắng nuốt cay, rút lui và phải để lại chiến trường hơn 2/3 nhân mạng tử vong, bị thương, và hầu như toàn bộ chiến cụ nặng như Chiến Xa T.54, PT.76, các chiến xa cơ động phòng không, các khẩu pháo tầm xa 130 ly, và các giàn phóng hoả tiễn 107 ly và 122 ly, bị huỷ diệt (xem bản đồ 1).&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Tại lãnh thổ Quân Đoàn 3/Quân Khu III (Việt Nam Cộng Hoà), Cộng quân tung 4 Sư Đoàn gọi là Công Trường (C.T.) như Công Trường 5, Công Trường 7, Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt và Công Trường Bình Long tân lập của Cục R. Từ biên giới Cambodia, quân Cộng Sản Bắc Việt ồ ạt tấn công vào thị xã nhỏ bé An Lộc, một thị xã có khoảng 20,000 dân trên một diện tích khoảng 4 cây số vuông bên trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Địa danh An Lộc là thị xã của tỉnh lỵ Bình Long với tổng số khoảng 45,000 dân, trên diện tích khoảng 2,240 cây số vuông, Bắc và Tây giáp ranh nước Cambodia, Đông giáp ranh Tỉnh Phước Long (Việt Nam Cộng Hoà), Nam giáp ranh Tỉnh Bình Dương (Việt Nam Cộng Hoà), Tây Nam giáp ranh Tỉnh Tây Ninh (Việt Nam Cộng Hoà), Nằm dọc theo Quốc Lộ 13, từ ranh giới nước Việt Nam Cộng Hoà và nước Cambodia, với những rừng cây cao su ngút ngàn, và vài ngọn đồi thoai thoải chung quanh thị trấn: Đồi 100 về hướng Tây, Đồi Đồng Long về hướng Bắc, Đồi Gió và Đồi 169 về Đông Nam. Đó là những cao thế địa hình dùng làm các cứ điểm quân sự rất thuận lợi trong việc phòng thủ bảo vệ Thị xã AN LỘC. Thị xã An Lộc chỉ cách Thủ Đô SÀI GÒN 100 cây số về hướng Bắc. Mục đích của địch là tạo áp lực quân sự trước cửa ngõ Thủ đô nước Việt Nam Cộng Hoà (Sài Gòn), và ra mắt Chính phủ của cái gọi là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” (là công cụ bù nhìn của Cộng Sản Bắc Việt đẻ ra), đồng thời để hổ trợ cho hoà đàm Ba Lê đang hồi kết thúc.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Từ ngày 01 đến ngày 03 tháng 04 năm 1972, địch mở màn bằng các trận đánh dương Đông kích Tây trên Quốc Lộ 22 phía Bắc tỉnh Tây Ninh, và đã tung vào trận chiến đơn vị C30B, gồm 2 Trung Đoàn là Trung Đoàn 24 địa phương và Trung Đoàn 271 của Công Trường 9, 2 tiểu đoàn đặc công, và 1 đơn vị thiết giáp (gồm 6 chiếc M.41 và M.113 chiến lợi phẩm chiếm được của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà),và 1 tiểu đoàn súng cối và phòng không 12 ly 8, mục đích để cầm chân Sư Đoàn 25 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đang có trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ Tình/Tiểu Khu Tây Ninh, Hậu Nghĩa và Long An, tạo THẾ NGHI BINH (Tây Ninh là DIỆN) nhưng ĐIỂM là Bình Long (AN LỘC).&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Mặt trận An Lộc được khởi diễn vào đêm 04 rạng 05 tháng 04 năm 1972 khi Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt xuất phát từ biên giới Cambodia xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà tấn công quận lỵ Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long, rồi đến Tỉnh Lỵ Bình Long ( An Lộc ) cho đến :&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;* ngày 07 tháng 07 năm 1972 là ngày được xem như kết thúc trận chiến, là ngày toàn thắng của Quân, Dân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hoà tại An Lộc Bình Long, sau 93 ngày đêm tử thủ,&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;* ngày mà cả 4 Công Trường quân Cộng Sản Bắc Việt bị Quân Dân tỉnh Bình Long đánh tan nát, gây kiệt quệ cả về tinh thần lẫn khả năng tác chiến, và buộc phải âm thầm rút lui trong tủi nhục ra khỏi trận chiến, với sự thiệt hại thật nặng nề, về nhân mạng cũng như quân dụng ( khoảng 70 đến 80 % quân số và chiến cụ nặng Chiến Xa T.54 + PT.76 + các xe Thiết Giáp Phòng Không di động + đại bác tầm xa 130 ly + các giàn phóng hoả tiễn 122 và 107 ly bị phá huỷ), do sự phối hợp chiến đấu oai hùng của Quân Dân Cán Chính tỉnh Bình Long chiến đấu trên diện địa, với sự yểm trợ của Không Quân Hoa Kỳ và Việt Nam oanh kích và oanh tạc trên các lộ trình tiến công của địch,&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;* ngày mà toàn thể Quân Dân Cán Chính tử thủ Bình Long đón chào vị Nguyên Thủ Quốc Gia kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cùng phái đoàn đáp trực thăng xuống An Lộc để ủy lạo và tưởng thưởng cho những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà hữu công và an ủi thăm hỏi dân chúng tỉnh Bình Long, trong lúc vẫn còn tiếng pháo kích của Cộng quân vào thành phố. Tổng Thống và phái đoàn đã nhìn tận mắt một Thị Xã nhỏ bé với diện tích khoảng 4 cây số vuông bị đổ nát bởi trên 200 ngàn quả pháo đủ loại trên mặt đất, xen lẫn mùi thuốc súng và mùi hôi thối của xác chết xông lên, của khoảng 8 ngàn thường dân vô tội và chiến binh tử vong trong những cơn mưa pháo của địch quân vào thị xã này.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;* ngày mà tất cả các vị có mặt trong phái đoàn tháp tùng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gồm nhiều vị Tướng Lãnh Việt, Pháp, vào ủy lạo Quân, Dân, Cán, Chính tại mặt trận An Lộc, đã chứng kiến tận mắt chiến tích oai hùng này. Sự chiến đấu kiên trì của Quân Dân tỉnh Bình Long đã giáng trả cho đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt một trận để đời. Kết quả của trận chiến An Lộc thậtlà kỳ diệu đã làm đảo ngược những tiên đoán của các nhà quân sự và các giới quan sát Tây Phương có mặt tại Sài Gòn trong thời gian đó. Tướng Vanuxem của Pháp, người từng tham gia trong cuộc chiến Việt Nam, từng là Tư Lệnh Quân Khu Tả Ngạn sông Hồng Bắc Việt trước năm 1954, đã ví trận chiến An Lộc như một Điện Biên Phủ thứ nhì, một trận chiến quyết định tại An Lộc cho Hoà Đàm Ba Lê tương tự như trận Điện Biên Phủ đã quyết định cho Hoà Đàm Genève năm 1954. Lịch sử đã không tái diễn như vậy; lần này Tướng Vanuxem cùng giới quan sát quốc tế rất đổi ngạc nhiên trước một kỳ công to tát của toàn quân và toàn dân Việt Nam Cộng Hoà tại An Lộc, là một chiến tích vĩ đại và điển hình để nói lên tinh thần chiến đấu hào hùng kiên cường bất khuất bằng quyết tâm chống Cộng Sản để bảo vệ lý tưởng Tự Do Dân Chủ cho Miền Nam Việt Nam. Trận chiến An Lộc, một trận chiến lẫy lừng về trình độ tác chiến phòng ngự, đã đi vào quân sử một cách vẻ vang, đã làm rạng danh người Chiến Sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong công cuộc chiến đấu bảo vệ quê cha Đất Tổ Việt Nam,&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;* ngày mà vị Lãnh Đạo Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà quỳ trước nghĩa trang Biệt Cách Dù, ngậm ngùi cầu nguyện trước Anh Linh của 68 Chiến Sĩ Biệt Cách Dù và hàng ngàn các chiến sĩ thuộc các quân binh chủng và dân thường vô tội khác, đã bỏ mình vì Đại Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc trong suốt 93 ngày đêm chiến đấu thề quyết tâm tử thủ không ngừng nghỉ tại chiến trường An Lộc,&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;* ngày mà hai câu thơ của cô giáo Pha được đi vào lịch sử của Trận Chiến Thắng An Lộc :&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;AN LỘC ĐỊA, SỬ GHI CHIẾN TÍCH&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;BIỆT CÁCH DÙ VỊ QUỐC VONG THÂN&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Chiến thắng An Lộc năm 1972 đã tượng hình từ năm 1971 sau những cuộc hành quân Toàn Thắng của Quân Khu III do cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí phát động, dự định đổ quân lên Kratié (một quận lỵ của nước Cambodia) để tiêu diệt Cục R, bản doanh đầu não của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đồng thời là căn cứ hậu cần của quân Cộng Sản Bắc Việt xâm nhập vào Miền Nam lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng không may, Đại Tướng Đỗ Cao Trí phải đền xong nợ nước vì lý do chiếc trực thăng chở ông bị nổ tung khi vừa mới cất cánh tại Tây Ninh, đến bây giờ cũng không ai biết đích xác về nguyên nhân gây ra tai nạn này.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Trung Tướng Nguyễn Văn Minh được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ định thay thế người tiền nhiệm tài ba và đầy lòng yêu nước đó.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Trong cái thế chẳng đặng đừng, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh buộc lòng phải có quyết định cho lệnh rút các lực lượng cơ hữu của Quân Đoàn 3 trở về nội địa Việt Nam Cộng Hoà để bảo toàn lực lượng, hoàn tất vào ngày 31 tháng 05 năm 1971.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Việc rút đoàn quân trên 2 Sư Đoàn (Sư Đoàn 18 Bộ Binh + 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân + Trung Đoàn 8 của Sư Đoàn 5 Bộ Binh + Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ + Liên Đoàn 30 Công Binh Chiến Đấu) về đến nội địa vừa kịp lúc. Nhờ vậy mà khi quân Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc tấn công vào lãnh thổ Quân Khu III vào ngày 05 tháng 04 năm 1972, phần lớn lực lượng kể trên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã là thành phần nòng cốt, tương đối đủ khả năng cấp thời để chống trả lại 4 Sư Đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt.Cuộc rút quân từ chiến trường ngoại biên năm 1971 về nội điạ Việt Nam Cộng Hoà là một cuộc hành quân lui binh đúng lúc trước tình hình biến chuyển ngõ hầu có đủ lực lượng phòng thủ diện địa, nhất là việc phòng thủ An Lộc trong trận chiến năm 1972 khi lực lượng bạn chỉ có một phải chống trả lực lượng địch đông hơn gấp sáu lần, trong khi đó địch có pháo binh và chiến xa yểm trợ trực tiếp, ta không có chiến xa chỉ có các phi vụ B.52 và các phi tuần phản lực của Không Lực Hoa Kỳ và Không Lực Việt Nam Cộng Hoà yểm trợ.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Việc địch quân được biết trước cuộc rút quân là điều tối kỵ của binh pháp và là một chuyện chẳng đặng đừng mà Trung Tướng Nguyễn Văn Minh phải ra lệnh thi hành. Sự kiện này đã gây nhiều ấn tượng sâu sắc trong tâm khảm và cuộc đời binh nghiệp không những cho riêng Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, mà còn cho tất cả những chiến sĩ liên quan đến Trận Chiến An Lộc.( xem bản đồ số 1)&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;CHƯƠNG 3 - MẶT TRẬN LỘC NINH&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;1. ĐIỂM LÀ AN LỘC, ĐƯỢC KHỞI ĐẦU BẰNG TRẬN TẤN CHIẾM LỘC NINH&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Trận tấn chiếm Lộc Ninh được xem như khởi diễn vào khoảng 17 giờ 45 ngày 04 tháng 04 năm 1972, là trận mở màn cho trận chiến An Lộc, khi đại đội trinh sát của Chiến Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, chạm trán nặng và bất ngờ với Trung Đoàn E.6 Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, tại vùng hoạt động 4 cây số, Tây Lộc Ninh. Cả đại đội trinh sát của Chiến Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, bị địch tràn ngập và tiêu diệt hoàn toàn trong khoảnh khắc, chỉ còn lại một hiệu thính viên mang máy còn sống sót, gọi báo cho Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9, về tình hình chiến xa và bộ binh địch, đang tràn ngập và cận chiến xáp lá cà, với các chiến sĩ trinh sát 9 Việt Nam Cộng Hoà, và đang tiếp tục tiến về hướng Quận Lỵ Lộc Ninh. Người chiến sĩ anh hùng hiệu thính viên, của Đại Đội Trinh Sát, vẫn tiếp tục báo về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9, tình hình những sự di chuyển của địch, cho đến chiều ngày 06 tháng 04, tiếng nói của Người Hiệu Thính Viên quả cảm, im bặt vào khoàng 18 giờ 30. Tại Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9 (-) Việt Nam Cộng Hoà, mọi người đều biết tình hình chiến trận bắt đầu trở nên nghiêm trọng. Đại Tá Nguyễn Công Vĩnh, Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, cùng cố vấn trưởng, và toàn thể các đơn vị trong căn cứ Hoả Lực, kể cả Chi Khu Lộc Ninh, đều ban hành lệnh báo động ứng chiến (2)&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Chú thích: (2) After Action Report “The Battle of Loc Ninh” (4-7 April 1972) của tác giả Thiếu Tá Mark Smith, trang 5/13&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Lúc 05 giờ 50 sáng ngày 05 tháng 04 năm 1972, mở màn cho cuộc tấn công của chiến dịch mà Cộng Quân được mang tên là “Nguyễn Huệ”, Cộng Quân bắt đầu pháo kích vào Quận Lỵ, để dọn đường cho bộ binh và chiến xa đang xâm nhập vào vùng Quận Lỵ Lộc Ninh.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Đến 06 giờ 00 sáng ngày 05 tháng 04 năm 1972, từ phía Tây và Tây Bắc, Cộng quân tung vào chíến trường Lộc Ninh, Quận Lỵ của Tỉnh Bình Long, khoảng 30 cây số Bắc An Lộc, toàn bộ Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, gồm có Trung Đoàn 275, Trung Đoàn 174, Trung Đoàn E.6, được tăng cường Trung Đoàn 95C của Công Trường 9, + Trung Đoàn địa phương + đại đội chiến xa trực thuộc trung đoàn 203 Chiến Xa hỗn hợp (T.54, PT.76), tổng cộng 10 chiếc tham chiến + Trung Đoàn phòng không cơ động 271, dưới sự yểm trợ hoả lực của Trung Đoàn Pháo nặng 42D 130 ly (tầm xa 30 cây số) + các giàn phóng hoả tiễn 122 ly và 107 ly. Tổng cộng quân số địch tham dự trận mở màn Lộc Ninh vào khoảng 15,000 cán binh cộng sản (Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh).&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Phía lực lượng Việt Nam Cộng Hòa, gồm có các đơn vị : Chiến Đoàn 9 (-) Sư Đoàn 5 Bộ Binh, do Đại Tá Nuyễn Công Vĩnh chỉ huy, Thiết đoàn 1 (-) do Trung Tá Nguyễn Đức Dương chỉ huy, (gồm các Chiến Xa M.41 + Thiết Vận Xa M.113) + Tiểu Đoàn 74 Biệt Động Quân Biên Phòng, Trung Đội Pháo Binh 105 ly, các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát, trực thuộc Chi Khu Lộc Ninh, chỉ huy bởi Trung Tá Nguyễn Đức Thịnh, Quận Trưởng kiêm Chi Khu Trưởng Lộc Ninh. Tổng cộng quân số khoảng 3,000 chiến binh Việt Nam Cộng Hoà. (Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát). Như vậy, lực lượng tương quan là 1 chống 5.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Khởi đầu trận đánh, quân Cộng Sản Bắc Việt mở trận mưa pháo vào vị trí đóng quân của Tiểu Đoàn 74 Biệt Động Quân Biên Phòng, 5 cây số phía Nam lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà (căn cứ hoả lực Alpha) và Thiết Đoàn 1 (-) đóng tại căn cứ dã chiến (căn cứ Hoa Lư vùng ngã ba Lộc Tấn, dọc theo Quốc Lộ 13 từ Bắc xuống Nam), 10 cây số Bắc Lộc Ninh, cùng lúc pháo vào Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9 (-) Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, Quận/Chi Khu Lộc Ninh, nơi có các Khẩu Đội 105 ly trú đóng, theo chiến thuật “Bịt Pháo Công Đồn”.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Nhận biết ý đồ của địch, Đại Tá Vĩnh khẩn điện cho Trung Tá Dương cắt bớt một Chi Đoàn gữi trở về cho Chiến Đoàn 9 (-) Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Công Hoà, để phòng thủ Quận Lỵ Lộc Ninh và Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn, cấp thời di chuyển về phía Nam Quốc Lộ 13.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Chi Đoàn 3/1 hỗn hợp Chiến Xa và Thiết Vận Xa do Trung Úy Lê Văn Hùng làm Chi Đoàn Trưởng, rời vị trí đơn vị Mẹ trong đêm, nhưng khi chỉ còn cách Quận Lỵ Lộc Ninh 5 cây số về hướng Bắc, bị lọt vào ổ phục kích quân địch, có Chiến xa T.54 và PT.76 trợ chiến, và bị mất liên lạc với Thiết Đoàn 1 cũng như Bộ Chỉ Huy/Chiến Đoàn 9 Việt Nam Cộng Hoà, sau nửa giờ giao tranh.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Trung Tá Nguyễn Đức Dương, Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 1 (-) liền báo cáo về cho Đại Tá Nguyễn Công Vĩnh, Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, đã mất liên lạc với đứa con Chi Đoàn 3/1, nhưng tại Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9, tần số liên lạc bị gián đoạn, vì trong giờ phút đó hầm truyền tin của Chiến Đoàn 9 bị Cộng quân pháo sập, mãi cho đến sáng hôm sau, Đại Tá Vĩnh mới lên tần số, Ông chỉ thị cho Trung Tá Dương rút hết lực lượng còn lại tại ngã ba Lộc Tấn gồm Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn (-)Hỗn Hợp (Chi Đoàn 2/1) + Tiểu Đoàn 2/9 (-) tùng thiết và Tiểu Đoàn 74 Biệt Động Quân Biên Phòng + 1 khẩu đội Pháo Binh 105 ly, khẩn rút về tăng cường phòng thủ cho Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9 và Quận Lỵ Lộc Ninh .&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Dọc theo Quốc Lộ 13 xuôi về hướng Nam, khi nhận diện được điểm địch phục kích, mà Chi Đoàn 3/1 bị đánh tan vào đêm trước, Thiết Đoàn 1 (-) thình lình khám phá ra ổ phục kích của địch quân, gồm Chiến xa T.54+ PT.76, và hàng ngàn cán binh, đồng loạt hô xung phong, tiến đánh xáp lá cà, với các chiến sĩ tùng thiết (Tiểu Đoàn 2/9), và Tiểu Đoàn 74 Biệt Động Quân Biên Phòng. Sau hơn 1 giờ chiến đấu quyết liệt một cách anh dũng trước địch quân đông hơn gấp nhiều lần, các chiến sĩ tùng thiết cùng các con ngựa sắt M.41 và M.113 và Tiểu Đoàn 74 Biệt Đông Quân Biên Phòng, đành phải thúc thủ trước các chiến xa T.54 và PT.76 của Cộng quân.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Trung Tá Dương và Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn (-) với 2 Thiết Vận Xa, tung phá vòng vây, vượt được khỏi nơi phục kích khoảng 1 cây số về phía Nam, rồi cũng bị chận đánh, phải bỏ xe mà chạy bộ đến ngày hôm sau,cuối cùng cũng bị Cộng quân chặn bắt cùng với 15 chiến sĩ Thiết Kỵ của Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn 1 (-),vào khoảng 11 giờ 00 sáng ngày 07 tháng 04 năm 1972). (3)&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Chú thích: (3) Lời tường thuật của nhân chứng sống Trung Tá Nguyễn Đức Dương, Thiết Đoàn TrưởngThiết Đoàn 1/5 và Trung Sĩ Lê Hoàng Long thuộc Tiểu Đoàn 74 Biệt Động Quân Biên Phòng .&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;06 giờ 00 sáng ngày 06 tháng 04 năm 1972, Cộng quân gia tăng cường độ pháo kích vào các cứ điểm phòng ngự trong Chi khu Lộc Ninh, hơn 3,000 quả pháo đủ loại thi đua nhau nổ trên trận tuyến, bất kể là Quân hay Dân sự, rồi từng đợt biển người ồ ạt tấn công vào hai cứ điểm chánh : Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và Bộ Chỉ Huy Quận/ Chi Khu Lộc Ninh .&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;A.- Tại Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh chỉ còn lại Tiểu Đoàn 3/9 + 1 Đại Đội của Tiểu Đoàn 2/9 + thành phần của Pháo Đội 105 ly (còn sử dụng được 6 khẩu), đôi khi phải hạ nòng bắn trực xạ vào Chiến Xa và Bộ binh địch, đang áp dụng chiến thuật xung phong biển người cận kề trước tuyến phòng thủ. Các chiến sĩ Chiến Đoàn 9 và Pháo Đội Pháo Binh, đã đẩy lui nhiều đợt xung phong của Bộ Binh địch có chiến xa T.54 và PT.76 yểm trợ. Trận chiến kéo dài đến chiều tối, Quân Bạn càng lúc càng ít đi vì bị thương và tử trận trên chiến tuyến, còn địch, càng lúc càng đông, cho đến khi phòng tuyến phía Bắc và Đông Bắc bị Cộng quân tràn ngập, Đại Tá Vĩnh cùng Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn, các cố vấn Mỹ và một số anh em của Pháo Đội Pháo Binh, sau khi phá hủy hết các các khẩu đại pháo, rút ra khỏi vị trí phòng thủ, đồng thời nhờ Đại Uý Mark Smith, cố vấn Mỹ, gọi các phi tuần phản lực Hoa Kỳ đánh bom Napalm thiêu gọn bọn quỷ đỏ đang tràn ngập căn cứ. Cố vấn trưởng Trung Tá Richard Schott, vì bị thương nặng biết là không thể chạy được, đã tự sát để cho những người cố vấn khác có cơ hội thoát ra được. (4)&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Chú thích: (4) After Action Report “The Battle of Loc Ninh” của Thiếu Tá Mark Smith trang 11/13&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Và sau đó, đoàn quân còn lại chưa đầy 100 quân, lần mò trong đêm tối, rút về phía Nam, lại bị địch chận đánh, khiến mọi người bị tản mác thất lạc., Đại Tá Vĩnh cùng một số chiến sĩ còn lại của Chiến Đoàn 9 và vị cố vấn Mỹ duy nhất còn lại là Đại Úy Mark A. Smith, buộc phải buông súng đầu hàng. Riêng Đại Tá Vĩnh, một quân nhân già dặn và can đảm, bị bắt khi mình mẩy và bộ đồ trận trên thân người đẫm đầy máu, vì bị nhiều thương tích trong lúc chiến dấu.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Tần số liên lạc của Chiến Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, im bặt vào lúc 10 giờ 30 tối đêm 06 tháng 04 năm 1972.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;B.- Tại Bộ Chỉ Huy Quận/Chi Khu Lộc Ninh: Sau khi mất liên lạc truyền tin với Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9, ngầm biết Chiến Đoàn 9 đã tan, và sau khi biết lực lượng của Thiết Đoàn 9 (-)và Tiểu Đoàn 74 Biệt Động Quân Biên Phòng từ phía Bắc rút về đã bị đánh tan,cũng như lực lượng tiếp ứng từ phía Nam bị chận đánh, phải tháo lui trở lại, Trung Tá Thịnh liền họp Bộ Chỉ Huy Chi Khu và cố vấn trưởng, Thiếu Tá Thomas A. Davidson, quyết định phân tán rút lui,lợi dụng trời tối, vượt hàng rào phòng thủ về hướng Nam để vượt thoát vòng vây.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Trung Tá Thịnh là con người có vóc dáng nhỏ, nhanh nhẹn, da ngăm đen, nhưng thật rắn rỏi và kiên cường, sau khi thoát được vòng vây, len lỏi trong rừng sống như đồng bào Thượng, đôi lần gặp mặt Cộng quân, nhưng Trung Tá Thịnh làm bộ trả lời nhiều câu hỏi bằng tiếng Việt không thông, nên bị chúng đuổi đi, vì ngỡ rằng là Người Thiểu Số. Bôn ba lặn lội đầy gian lao khổ cực, cuối cùng cũng về đến An Lộc vài ngày sau đó. Trung Tá Thịnh được trực thăng bốc về Lai Khê, và sau khi nghỉ ngơi, sức khỏe và tinh thần được hồi phục, Trung Tá Thịnh được Trung Tướng NGUYÊN VĂN MINH, Tư LệnhQuân Đoàn3/Quân Khu III, bổ nhiệm làm Quận Trưởng /Chi Khu Trưởng Chi Khu Võ Đắc, thuộc Tỉnh Bình Tuy vào tháng 08 năm 1972. Còn cố vấn trưởng chi khu Thiếu Tá Thomas A. Davidson, chỉ sau đó 4 ngày, đã về đến phía Đông An Lộc, được một đơn vị Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà đang án ngữ phía Đông tiếp cứu, vào ngày 10 tháng 04 năm 1972.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Riêng Tiểu Đoàn 74 Biệt Động Quân Biên Phòng đang trú đóng tại căn cứ hoả lực Alpha (5 cây số phía Nam biên giới Việt Miên) liên tục bị địch quân pháo kích, và gia tăng áp lực tấn công, nên phải âm thầm rút lui trong đêm tối xuôi về phía Nam sau khi đã phá hủy hoàn tòan các khẩu pháo trong căn cứ trong đêm 05- 04-72, và rồi sáp nhập với Thiết Đoàn 1 (-) của Trung Tá Dương cùng di chuyển về Lộc Ninh và sau đó, bị đánh tan giữa đường.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Mặt trận Lộc Ninh kể như chấm dứt sau 48 giờ giao tranh ác liệt, Quân Cộng Sản Bắc Việt đã làm chủ tình hình chiến trận.(Xem bản đồ số 2)&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;2. CÂU CHUYỆN SAU TRẬN LỘC NINH&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Sau khi làm chủ tình hình tại Quận Lộc Ninh, Cộng quân liền trưng dụng tất cả các xe chở hàng và chở hành khách của dân chúng, ép buộc những tài xế của những xe này phải tuân lệnh chúng, lái xe để chuyên chở tù binh Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ, từ Lộc Ninh về khu đồn điền cao su Mimot, trong nội địa Cambodia và trong chuyến trở lại, chở các cán binh bổ sung cho các đơn vị Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Một trong những tài xế, cũng là chủ nhân của chiếc xe hàng đang hành nghề chuyên chở những bành mủ cao su cho các đồn điền Pháp từ Lộc Ninh về Sài Gòn tên là Nguyễn Văn Nại, 42 tuổi (vào thời điểm năm 1972), là cậu ruột của chiến hữu Không Quân Trần Văn Long,đang hành nghề địa ốc (Broker) tại Austin,TX. Chiến hữu Long kể lạI rằng, khi ông cậu còn sống đã kể lại cho chiến hữu Long nghe, cuộc đào thoát đầy gian truân và nước mắt, của gia đình ông cậu như sau :&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Vào các ngày 07 và 08 tháng 04 năm 1972. ông Nại bị Công quân bắt buộc dùng chiếc xe hàng của ông để làm công việc chuyển vận, Ông không bằng lòng lái xe, Cộng quân hăm dọa, đem cả gia đình gồm vợ và 3 con nhỏ, tuổi từ 12 đến 2, ra bắn bỏ, buộc lòng ông Nại phải lái xe cho Cộng quân. Lái từ buổi trưa ngày 07 tháng 04 năm 1972 đến Mimot rồi trở về Lộc Ninh. Đến chiều ngày 08-04-1972. Ông Nại cởi chiếc đồng hồ vàng đeo trên tay, lo lót cho một tên cán bộ Cộng Sản, đặc trách kiểm soát đoàn xe tại bến xe Lộc Ninh, Ông xin phép được về nhà cũng tại Lộc Ninh để thăm gia đình, xem vợ con như thế nào. Ông hứa khi xong, sẽ trở lại lái xe như thường. Tên cán bộ nhìn thấy chiếc đồng hồ vàng, cũng ưng thuận ngay, và dặn dò về nhà xong rồi phải trở lại liền, Ông Nại cám ơn, rồi chạy bộ trở về nhà. Trong lúc đó, gia đình vợ và 3 con của ông cũng đang lo chuẩn bị rời bỏ nơi cư ngụ tại Lộc Ninh, để về Bình Dương. Vợ ông đã móc nối được với một người Thượng trước đây đã giúp cho ông Nại trong việc chuyên chở mủ cao su. Người Thượng này rất thông thuộc đường rừng từ Lộc Ninh về An Lộc, chịu hướng dẫn gia đình ông Nại trốn chạy.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Trời vừa tối, gia đình ông Nại được người Thượng hướng dẫn rời Lộc Ninh băng tắt đường rừng về An Lộc.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Dọc đường, khi băng xuyên qua một con suối, phía trên có cầu bắt ngang, phía trên cầu có nhiều cán binh Cộng Sản di chuyển qua lại, thì bỗng nhiên đứa con trai 2 tuổi ré lên tiếng khóc. Sợ bị bại lộ, ông Nại liền bịt miệng và bóp cổ đứa trẻ, để không thoát ra tiếng khóc, đồng thời thúc dục gia đình vượt qua giòng suối dưới chân cầu. Tay ông bóp cổ người con không biết nặng nhẹ như thế nào mà sau đó ít phút, ông thấy người con buông xuôi hay tay không còn nhúc nhích được nữa, Ông nghĩ rằng đứa con ông đã chết, ông cũng không dám nói với vợ ông.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Đến khi vượt qua cái chỗ nguy hiểm, ông ngừng lại và cùng với mọi người lo cứu cấp đứa trẻ,nhưng cũng vẫn không thấy cử động. Ông đành rơi nước mắt,vác con trên vai, lòng thì thật sự tan nát, cùng mọi người tiếp tục vượt rừng hướng về An Lộc. Sau 3 đêm 2 ngày, gia đình ông Nại cũng về đến được An Lộc.Trên đường di chuyễn, khi dừng chân, ông Nại đặt con xuống bên lề đường, nhưng lại cảm thấy đứa nhỏ đã bắt đầu cử động. Nhìn kỹ lại, thì thấy đứa bé còn sống. Thật là cám ơn Trời Phật, và sau đó gia đình ông Nại theo đoàn dân di tản lội bộ từ Bình Long đến tỉnh Bình Dương. Gia đình ông được tạm cư tại nhà một người bà con tại Tỉnh Bình Dương, sau đó 4 năm ông Nại qua đời, gia đình và đứa bé 2 tuổi (1972) đến nay đã 36 tuổi đã có vợ con và vẫn còn ở tại Tỉnh Bình Dương, Việt Nam.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;3. KẾT QUẢ TỔN THẤT ĐÔI BÊN:&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;ĐỊCH: 2,150 tử trận 2 T.54 + 1 PT.76 bị Pháo Binh Việt Nam Cộng Hoà bắn hạ.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;BẠN: 600 tử trận và 2,400 bị địch bắt làm tù binh . Thiết Đoàn 1 (-) gồm 38 Chiến Xa M.41 và Thiết Vận Xa M.113 bị địch chiếm đoạt hay bị địch bắn hạ.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;1 Pháo Đội của Căn Cứ Alpha+ Khẩu Đội Pháo Binh của Chiến Đoàn 9 tăng cường (8 khẩu 105 ly và 155 ly, được phá huỷ hoặc bị hư hại).&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;DÂN CHÚNG: Ước độ 200 chết và 300 bị thương, và một số thường dân bị bắt dẫn về biên giới Miên để làm dân công tải đạn hoặc làm tài xế lái xe vận tải.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;4. BÌNH LUẬN TRẬN CHIẾN LỘC NINH&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;A.- Cộng quân đã thành công trong chiến thuật gọi là bỏ qua tuyến phòng thủ phía trước, như Tiểu Đoàn 74 Biệt Động Quân Biên Phòng và Thiết Đoàn 1 (-) Kỵ Binh của Việt Nam Cộng Hoà, và huy động nguyên cả Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt + 1 Đại Đội Chiến Xa của Trung Đoàn 203, chĩa mũi dùi chính, chia làm 3 hướng Tây, Bắc và Đông đánh thẳng vào Bộ Chỉ Huy đầu não của Chiến Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và Quận/Chi Khu Lộc Ninh, với quan niệm, tạo áp lực tấn công, tại Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9 và Chi Khu Lộc Ninh, thì lực lượng vòng ngoài, sẽ phải co rúm lại (rút về) để tiếp ứng, và vì muốn tiếp ứng kịp thời, thì phải vội vã rút lui, kém đề cao cảnh giác, nên chỉ cần tổ chức một cuộc phục kích cấp Trung đoàn có xe tăng T.54 trợ chiến, là có thể tiêu diệt được đoàn quân bên ngoài rút về tiếp ứng.(Trung Đoàn 95 C Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt đảm trách trận đánh này),Khi cái vỏ bên ngoài bị đánh bể, thì ruột bên trong sẽ không còn ai tiếp ứng phòng vệ, công thêm phải đương đầu với một lực lượng nhiều lần đông hơn, và khí thế mạnh hơn, tất nhiên phải thất thủ hay đầu hàng . (Lộc Ninh thất thủ sớm hơn 3 ngày, chiếu theo ước tính của Bộ Chỉ Huy chiến dịch Miền Cộng Sản Bắc Việt).&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;B.- Đây là trận đánh mà Cộng quân đã chuẩn bị tương đối dầy đủ, như xây dựng một con lộ ngầm dưới mặt nước của một con suối, ăn thông ngang qua rừng từ Lộc Ninh về biên giới Miên, chính con lộ ngầm này, Cộng quân dùng để di chuyển các chiến lợi phẩm và tù binh Việt Mỹ xuyên qua Miên; Đã gây cho phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hai cái bất ngờ : 1.- Áp dụng chiến thuật tiền pháo (mưa pháo) hậu xung (biển người), 2.- lần đầu tiên xử dụng chiến xa tại chiến trường Miền Nam cho nên binh sĩ vả kể cả cấp chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, bị mất tinh thần ngay từ giờ phút đầu, khi thấy xe tăng của địch xuất hiện, tạimột nơi mà theo lý thuyết các chiến xa này không thể đến được.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;C.- Tham khảo theo tài liệu của một nhân chứng sống, tựa để là After Action Report, the Battle of Lộc Ninh, của cựu Đại Uý cố vấn Mỹ, của Chiến Đoàn 9/Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, Mark Smith viết lại, thì giữa vị Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 9 Việt Nam Cộng Hoà Đại Tá Vĩnh và toán Cố Vấn Mỹ (Trung Tá Richard Schott, Thiếu Tá Albert E. Carlson, Đại Úy Mark A. Smith, Trung Sị Nhất Thường Vụ Howard Lull, Trung Sĩ Kenneth Wallingford có một sự bất đồng sâu đậm trong việc phối hợp điều quân để chống trả quân địch (5)&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Chú thích: (5) After Action Report, “The Battle Of Loc Ninh” của Thiếu Tá Mark Smith trang 3/13&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;D.- Về cái chết oanh liệt của cố vấn trưởng, Trung Tá Schott, đã phải tự sát vì vết thương trên đầu quá nặng, để cho các cố vấn còn lại khỏi phải vướng bận về ông khi trên đường rút lui ra khỏi căn cứ phòng thủ. Tài liệu này còn viết rằng, sau khi toán cố vấn Mỹ rút ra khỏi vị trí, thì Đại Úy Smith còn quay trở lại để định kéo xác Trung Tá Schott, nhưng khi vừa tới nơi đã thấy ba tên Cộng Sản Bắc Việt đang quay quần bên xác chết, tước lon, lột bảng tên và một tên thì đang dùng dao định cắt đầu ngườI chết . Thật là bọn man rợ vô lương tri, cả ngườI chết rồi mà cũng không tha, còn lột lon, lắc đầu.( Theo lời cựu Trung Tá James Willbanks, tác giả quyền The Battle of An Lộc, vào năm 2002. toán Tìm Những Người Mỹ Mất Tích Tại Việt Nam, Lào và Cao Miên, đã tìm thấy hài cốt của Trung Tá Schott tại địa đểm hầm chỉ huy của Chiến Đoàn 9 cũ (thời điểm 1972) bây giờ đã là một khu vườn trồng cây hột điều (6) .&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Chú thích: (6) The Battle of An Lộc, James Willbanks, trang 177.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;CHƯƠNG 4 - MẶT TRẬN CẦU CẦN LÊ&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;(15 cây số Bắc An Lộc)&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;1. DIỄN TIẾN&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Theo tin tức tình báo ghi nhận được, sau khi Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt làm chủ tình hình Lộc Ninh, Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của Quân Đoàn Cộng Sản Bắc Việt và Trung Ương Cục Miền Nam (Cục R), di chuyển vào trú đóng trong vùng Lộc Ninh. Còn hậu cần và Cơ Sở Chỉ Huy Chiến Dịch Nguyễn Huệ vẫn còn trú đóng trong vùng đồn điền cao su Mimot gần quốc lộ 7 trên lãnh thổ Cambodia.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Theo lệnh của Hà Nội, tất cả các đơn vị Cộng Sản Bắc Việt tại Mặt Trận Bắc Quân Khu III trong chiến dịch Nguyễn Huệ, phải dứt điểm An Lộc trước ngày 20 tháng 04 năm 1972, để ra mắt cái Chính Phủ bù nhìn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, sau khi thành công trong việc tấn chiếm Lộc Ninh, phải tạm dừng quân, để chỉnh đốn hàng ngũ, bổ sung quân số, tái tiếp tế lương thực, đạn dược, nhiên liệu, di tản tù binh Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ trở lui về điểm tiếp nhận hậu cần, v.v…, trước khi tiếp tục tiến về hướng Nam (An Lộc) để tiếp xúc với các cánh quân của Công Trường Bình Long và Công Trường 9 đang có mặt trong vùng, từ 5 đến 10 cây số phía Bắc, và Công Trường 7 đang hình thành tuyến phục kích tại vùng phía Nam An Lộc.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Việc Bổ Sung Quân Số : Cộng quân dùng phương cách di chuyển bằng đường bộ, cả bằng xe vận tải đủ cỡ,kể cả xe hàng dân sự mà chúng trưng dụng, lẫn những xe GMC của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà còn bỏ lại. Chuyến đi thì chở tù binh Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ trong đó có Đại Úy Smith, chuyến về thì chở cán binh bổ sung cho chúng.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Việc Tái Tiếp Tế : Cộng Sản Bắc Việt chủ trương nguồn bổ sung dựa vào chiến lợi phẩm, tịch thu được của quân dân Việt Nam Công Hoà.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;a.- Về lương thực, quân Cộng Sản Bắc Việt, cho tìm các nơi có dự trữ gạo của quân dân Việt Nam Cộng Hoà, cho lệnh lục soát trên người từng Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà, kể cả sống hay chết, để tịch thu hết các khẩu phần lương khô, rồi phân phát lại cho tất cả các cán binh Cộng Sản, bất cần đến sự đói no của Quân Dân Việt Nam Cộng Hoà;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;b.- vể đạn dược và nhiên liệu: quân Cộng Sản Bắc Việt cho lệnh đi tìm các kho xăng dự trữ của Quân Dân Việt Nam Cộng Hoà, ngay cả trong bình chứa xăng của những chiến xa M.113, M.41 và cả những xe đò chở hành khách, xe chở hàng dân sự, ở những chiếc nào không còn dùng được để châm vào những trang bị cơ giới, cũng như tất cả đạn và vũ khí đủ loại còn sử dụng được nhầt là đạn súng cối 81 ly, Cộng quân sẽ dùng được cho súng cối 82 ly của các đơn vị bộ binh Cộng Sản Bắc Việt.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;c.- nhân lực cho việc khuân vác, Cộng quân bắt cả Quân lẫn Dân Việt Nam Cộng Hoà đi làm tạp dịch và khuân vác.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Tất cả công việc này, Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, phải hấp tấp thực thi cả tuần lễ, mà vẫn chưa hoàn tất, dưới áp lực càng lúc càng đè nặng bởi các vụ oanh tạc, đủ loại, của Không Lực Hoa Kỳ.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Một trung đoàn của Công Trường Bình Long và 1 trung đoàn của Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt đã tổ chức tuyến phục kích dài 3 cây số trên Quốc Lộ.13 hướng lên Lộc Ninh, để chặn đánh Tiểu Đoàn 2 Chiến Đoàn 52 (-) Sư Đoàn 18 Bộ Binh, đang đóng tại Căn Cứ Hoả Lực Cầu Cần Lê, do Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh làm Chiến Đoàn Trưởng. Căn Cứ Hoả Lực Cầu Cần Lê, còn có tên là Hùng Tâm, đóng tại vị trí 3 cây số phía Đông cầu Cần Lê, trên Liên Tỉnh Lộ 17. Hai trung đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt, có hai nhiệm vụ chính yếu là chận đánh viện quân của Việt Nam Cộng Hoà từ hướng An Lộc lên tiếp viện và chận bắt các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà tháo lui từ Lộc Ninh về An Lộc.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Trận chiến Cầu CẦN LÊ khởi diễn vào sáng sớm ngày 06-04-1972. Khi nhận được lệnh của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, từ Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa chỉ huy, đang có mặt tại An Lộc . Lệnh tức tốc gửi một Tiểu Đoàn lên tăng viện Lộc Ninh - Tiểu Đoàn 2 Chiến Đoàn 52, liền xuất quân đi cứu viện. Xuất phát từ Liên Tỉnh Lộ 17, Tiểu Đoàn 2 Chiến Đoàn 52 vừa ra đến ngã ba Quốc Lộ 13 và Liên Tỉnh Lộ 17, bị 2 Trung Đoàn của Công Trường Bình Long và Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt phục kích chận đánh.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Sau một giờ chống trả mãnh liệt, với sự yểm trợ không ngừng của các khẩu Pháo 105 và 155 ly trong căn cứ hoả lực Hùng Tâm, Tiểu Đoàn 2/52 đã gây cho địch tổn thất thật đáng kể. Mặc dù được Pháo Binh yểm trợ rất đắc lực, Tiểu Đoàn 2/52 vẫn không thể tiến lên được, và trước áp lực địch càng lúc càng gia tăng, vị Tiểu Đoàn Trưởng, gọi máy về cho Trung Tá Thịnh, xin lệnh rút lui trở về căn cứ với sự thiệt hại trung bình.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Khi 2 Trung Đoàn của quân Cộng Sản Bắc Việt khai hoả chận viện, tại ngã ba Liên Tỉnh Lộ 17 và Quốc Lộ, phía Đông căn cứ, cùng lúc căn cứ hoả lực Hùng Tâm bắt đầu bị pháo kích, và thấy địch xuất hiện ở mặt phía Tây và Tây Bắc của căn cứ hoả lực. Như vậy thì cả ba mặt Đông, Tây và TâY Bắc, đều nhận thấy có địch, áp lực càng lúc càng nặng.Để bảo toãn lực lượng, Trung Tá THỊNH khẩn điện về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, trình sự việc lên Tướng Hưng, xin cho rút lui khỏi căn cứ di chuyễn về An Lộc. Nhận được sự chấp thuận của Tướng Hưng vào đêm 07 tháng 04 năm 1972.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Cuộc hành quân triệt thoái của Chiến Đoàn 52 (-) bắt đầu vào sáng ngày 8 tháng 04 năm 1972. Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 48 (tăng phái cho Chiến Đoàn 52), do Thiếu Tá Nguyễn Yêm, Tiểu Đoàn Trưởng, dẫn đầu, cũng theo Liên Tỉnh Lộ 17 tiến về phía Đông. Trên đường từ Liên Tỉnh Lộ 17 ra Quốc Lộ 13, cánh quân đầu của Tiểu Đoàn 1/48 chạm địch, trong khi đó phía sau là đoàn xe 20 chiếc kéo theo 6 khẩu 105 ly và 4 khẩu 155 ly, và các xe chở đạn dược, đi sau cùng là Tiểu Đoàn 2/52 do Thiếu Tá Nguyễn Văn Dưỡng làm Tiểu Đoàn Trưởng. Cộng quân lại tiến công đánh xáp lá cà với các chiến binh Tiểu Đoàn 1/48, lần này, Cố Vấn Trưởng Chiến Đoàn là Trung Tá Walter D. GINGER, gọi trực thăng võ trang và các phi tuần Phản Lực Cơ Hoa Kỳ đến yểm trợ rất đắc lực.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Cuộc chiến kéo dài đến chiều tối, mà vẫn không vượt qua được khỏi tuyến phục kích của Cộng quân, buộc lòng Trung Tá Thịnh phải cho lệnh lui quân trở về căn cứ hoả lực, để phòng thủ qua đêm, chờ tìm biện pháp cho kế hoạch mới.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Kiểm điểm lại, ta mất 3 khẩu pháo 105 ly. Một số chiến sĩ bị thương và tử trận được mang trở về căn cứ hoả lực. Trung Tá Thịnh khẩn báo tình hình lên Tướng Hưng, nhất là khi thấy một số đông lực lượng Cộng quân đang chuẩn bị dứt điểm Căn Cứ Hoả Lực. Tướng Hưng ra lệnh cho Chiến Đoàn 52 Bộ Binh (-) phá huỷ hết chiến cụ nặng, chỉ còn lại BỘ BINH mà thôi, băng tắt đường rừng về An Lộc càng sớm càng tốt.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Sau khi thi hành lệnh phá huỷ các chiến cụ nặng, gồm các khẩu pháo, đạn dược và tất cả xe cộ, Chiến Đoàn 52 (-) được rảnh tay. Vào lúc 08 giờ sáng ngày 09 tháng 04 năm 1972, Chiến Đoàn 52 (-), tái xuất phát, trực chỉ về An Lộc. Lần này Tiểu Đoàn 1/48, được lãnh ấn tiên phong dẩn đầu đoàn quân, chặng giữa là Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn, đoạn hậu thì giao cho Tiểu Đoàn 2/52, có nhiệm vụ làm thế nghi binh, mặt Tây và Tây Bắc (Căn Cứ Hoả Lực), phòng hờ các cánh quân của Cộng Sản Bắc Việt truy kích cắt đứt đoàn quân đang di chuyển. Nói về Tiểu Đoàn 1/48 khai thông đường máu, đánh tan cánh quân địch trên Liên Tỉnh Lộ 17, thừa thắng xông lên quét tan một đơn vị khác của địch trên Quốc Lộ 13, rồi trực chỉ về phía Nam hướng An Lộc. Khi được tin Tiểu Đoàn 1/48 phá vỡ tuyến phục kích đầu, Tiểu Đoàn 2/52 liền rời vị trí Căn Cứ Hoả Lực di chuyển tiếp nối với đoàn quân bạn đang trên lộ trình ép về phía Đông ven rừng.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Sau khi được báo động Chiến Đoàn 52 (-), đột phá vòng vây, rút lui, các cánh quân Cộng Sản Bắc Việt liền tập trung truy kích, trung đoàn của Công Trường Bình Long bọc chận đầu Tiểu Đoàn 1/48 còn 1 đơn vị khác của Cộng Sản Bắc Việt rượt đuổi kịp và xáp chiến với Tiểu Đoàn 2/52 đang bảo vệ đoạn hậu. Một trận thư hùng đánh xáp lá cà được diễn ra ác liệt. Cố Vấn Mỹ điều động các trực thăng võ trang tác xạ rất chính xác vào các đơn vị Cộng quân đang bao vây ngăn cản đường rút quân của Chiến Đoàn 52 (-). Mặc dầu bị chặn lại giữa đường, nhưng Chiến Đoàn 52 (-) vẫn còn giữ được đội hình, đánh bật Cộng quân ra ngoài. Cuộc chạm trán nẩy lửa này được diễn ra suốt một ngày một đêm. Các Cố vấn Mỹ rất tận tình gọi không quân yểm trợ quân Bạn. Ban ngày thì được các phi tuần phản lực đánh bom Napalm và oanh kích, ban đêm thì có RỒNG GIÀ AC.130 (Spectre Gunship) bao vùng. Đại Úy Cố Vấn Mỹ tên Zumwalt bị miểng của quả B.40 văng trúng mặt, thương tích trầm trọng. Cố Vấn Trưởng, Trung Tá Ginger, xin trực thăng tản thương, giữa các lằn đạn cận kề tại chiến trận, trực thăng vừa đáp xuống để tản thương Đại Uý Zumwalt và một số chiến binh Việt Nam Cộng Hoà bị thương nặng, liền bị ngay một tràng AK.47 bắn bừa lên trực thăng gây tử thương cho một sĩ quan phi hành tên Robert L. Hors và một y tá trên chiếc trực thăng có sơn dấu hồng thập tự đỏ . Trực thăng vẫn được cất cánh an toàn, mặc dù bị thủng nhiều lỗ đạn, nhờ còn viên phi công chánh là Đại Uý John B. Whitehead thuộc Tiểu Đoàn 229 Trực Thăng Xung Kích Hoa Kỳ điều khiển chiếc trực thăng ra khỏi vùng nguy hiểm (7).&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Chú thích: (7) “Thiết Giáp ! The Battle of An Loc”, tác giả Trung Tá James H. Willbanks, trang 19/64&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Rồi đến Trung Tá Trung Đoàn Phó Chiến Đoàn 52 (-), Hoàng Văn Hiến và Trung Tá Cố Vấn Trưởng Ginger cùng Trung Sĩ Nhất Winland cũng bị thương, trong khi hướng dẫn các phi tuần phản lực, oanh kích Cộng quân. Mặc dù cả toàn ban Cố Vấn Hoa Kỳ đều đã bị thương tích, Trung Tá Ginger vẫn không gọi trực thăng tản thương rời đơn vị Chiến Đoàn 52 (-).Ông đã ở lại chiến trường, và tận tình hướng dẫn không quân Hoa Kỳ oanh kích, địch quân chết hàng đoàn trong những đợt tập trung xung phong biển người. Thật đáng ca tụng và khen ngợi tinh thần trách nhiệm của toàn thể toán Cố Vấn của Chiến Đoàn 52 (-) Sư Đoàn 18 Bộ Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Mãi hai ngày sau khi Chiến Đoàn 52 (-), đột phá được vòng vây, đến gần An Lộc, thấy đã có được sự an toàn cho đoàn binh lui quân, Trung Tá Ginger mới chịu gọi trực thăng đến tản thương, về Bệnh Viện 3 Dã Chiến Hoa Kỳ tại Sài Gòn để chăm sóc vết thương đã có từ hai ngày trước.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Trận chiến được xem như ác liệt và đẫm máu. Tiểu Đoàn 1/48 do Thiếu Tá Nguyễn Yêm, Tiểu Đoàn Trưởng, tả xung hữu đột, như Triệu Tử Long trong trận Tương Dương Trường Bảng thời Tam Quốc Chiến vậy. Cuộc chiến đấu trong thế lui quân kéo dài suốt 2 ngày. Nhờ sự chỉ huy tài ba của Trung Tá Thịnh, Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 52 (-) và sự tận tình trợ lực của toán Cố Vấn Hoa Kỳ và tất cả các Chiến Sĩ dũng cảm, gan lỳ của Chiến Đoàn 52 (-), cuối cùng đơn vị này cũng về được đến An Lộc vào buổi sáng ngày 11 tháng 04 năm 1972. Chiến Đoàn 52 (-), mặc dầu bị xáp chiến nhiều lần, nhưng vẫn còn giữ được gần 1/2 quân nhân các cấp trên tổng số 1,000 khi khởi phát đến trấn đóng tại Căn Cứ Hoả Lực Hùng Tâm. Riêng Trung Tá Trung Đoàn Phó Hoàng Văn Hiến chẳng may bị mất máu quá nhiều trên đường di chuyễn, đã trút hơi thở cuối cùng trước khi về đến An Lộc.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Tương quan lực lượng của trận cầu CẦN LÊ được ghi nhận như sau:&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;ĐỊCH: Công Trường Bình Long Cộng Sản Bắc Việt gồm có 3 Trung Đoàn bộ chiến: Trung Đoàn Thép, Trung Đoàn Đồng Nai, và Trung Đoàn Phước Long. Tại mặt trận Cầu Cần Lê địch chỉ sử dụng có hai trung đoàn: Trung Đoàn Thép của Công Trường Bình Long và 1 Trung Đoàn của Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt, tổng cộng tham dự trận đánh có khoảng 4,400 cán binh bộ chiến, chưa kể Sư Đoàn Pháo 69 yểm trợ hoả lực.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;BẠN: Chiến Đoàn 52 (-) = 900 chiến sĩ + Pháo Đội Pháo Binh hổn hợp = 100. Tổng cộng : 1,000 Binh Sĩ.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;SO SÁNH THỰC LỰC: 1 chống 4. Có một đơn vị Không Lực Hoa Kỳ yểm trợ : Tiểu Đoàn 229 Trực Thăng Xung Kích.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;2. TỔN THẤT ĐÔI BÊN&lt;/strong&gt; &lt;/div&gt;&lt;div&gt;ĐỊCH: khoảng 3,200 bị loại khỏi vòng chiến do các Chiến Sĩ Chiến Đoàn 52 (-) bắn hạ và do máy bay oanh kích và tác xạ.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;BẠN: Tử thương = Khoảng gần 600 và 1 viên phi công Hoa Kỳ của Tiểu Đoàn 229 Trực Thăng Xung Kích Hoa Kỳ. Tự phá huỷ: 3 khẩu pháo binh 105 ly và 4 khẩu 155 ly, 20 chiếc xe GMC và tất cả đạn dược của Pháo Binh.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Sau khi bứng được Căn Cứ Hoả Lực Cầu Cần Lê, Công Trường Bình Long vượt qua Quốc Lộ 13 tiếp tục di chuyển về hướng Đông, Đông Nam (phi trường Quản Lợi) 5 cây số Đông An Lộc, bủa gọng kềm từ hướng Đông, Đông Bắc, Đơn vị của Công Trường 9, rút thì tiếp tục di chuyển về phía Tây An Lộc, án binh bất động, dường như làm thành phần trừ bị cho Quân Đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt, còn Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt thì di chuyển đến tuyến ẩn phục vùng 5 cây số Nam An Lộc xuyên qua các Xã Xa Trạch, Xa Cam, Tân Khai, Tàu Ô đến Quận Chơn Thành Tỉnh Bình Long, tổ chức chốt kiền dọc theo Quốc Lộ 13 về hướng Nam, với ba nhiệm vụ linh động : thứ nhất là chặn bắt hết quân của Việt Nam Cộng Hoà nếu có tháo lui từ An Lộc trở về Bình Dương, thứ hai là tổ chức tuyến phục kích (Chốt Kiền) để chặn viện binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, thứ ba là dùng làm nỗ lực chính để tấn công dứt điểm An Lộc khi tình hình chiến trận thuận lợi. Công Trường 7 còn được sự yểm trợ của Sư Đoàn 69 Pháo nặng 130 ly, Tiểu Đoàn Chiến Xa của Trung Đoàn Thiếp Giáp 203 với T.54 và PT.76, Trung Đoàn Cơ Giới Phòng Không và hoả tiễn 122 ly, các đơn vị cấp Trung Đội Bộ Binh của Công Trường 7 còn được trang bị loại vũ khí tối tân của Nga Sô là loại hoả tiễn tầm nhiệt cầm tay SA.7, loại khắc tinh của các trực thăng để khống chế các trực thăng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Đồng Minh bay trên cao độ từ 4,000 đến 7,000 bộ, lập một hàng rào hoả lực dầy đặc trên vùng trời phía Nam An Lộc nhất là tại vùng Xa Cam, khiến cho việc tiếp tế và tản thương về phía Việt Nam Cộng Hoà bị bế tắc.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;3. BÌNH LUẬN VỀ CUỘC RÚT LUI CỦA CHIẾN ĐOÀN 52 SƯ ĐOÀN 18 BỘ BINH TẠI MẶT TRẬN CẦU CẦN LÊ.&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Tương quan lực lượng giữa đôi bên quá chênh lệch (1 chống 4, trên trận thế “nổi” rút quân, không có công sự như là phòng thủ). Địch quân đã ở vào vị thế Phục Kích và Truy Đuổi cũng như áp dụng chiến thuật thí quân BIỂN NGƯỜI, nhưng vẫn không đánh tan được Chiến Đoàn 52 (-), mà ngược lại còn bị tổn thất gấp 5 lần hơn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Các Chiến Sĩ của Chiến Đoàn 52 (-) trong đó có Tiểu Đoàn 1/48 thật là xuất sắc và thiện chiến, nếu đem so sánh một Tiểu Đoàn 1/48 có thể đánh thủng cả trung đoàn của quân Cộng Sản Bắc Việt phục kích và bao vây.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Vị Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 52 (-), Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh, gốc Dù, từng là cựu Huấn Luyện Viên Khoa Tác Chiến của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, cũng là cấp chỉ huy tài giỏi và linh hoạt ứng phó thật tài tình trong mọi hoàn cảnh và trạng huống ; hay nói cách khác, kỹ thuật lãnh dạo chỉ huy giỏi và rất được các cấp dưới quyền và toàn thể toán cố vấn Mỹ kính nễ. Tinh thần hy sinh cao cả vì chức vụ cố vấn của Trung Tá Walter D. Ginger, dù rằng đã bị thương nhưng không hèn nhát xin tản thương, mà vẫn ở lại mặt trận cùng sống chết với bạn Đồng Minh Việt Nam Cộng Hoà. Một điểm son cho toán cố vấn Sư Đoàn 18 Bộ Binh là ngay khi Chiến Đoàn 52 (-) về đến An Lộc, thấy không còn vị cố vấn nào vì đã bị thương và di tản về Bệnh Viện 3 Dã Chiến Hoa Kỳ tại Sài Gòn để trị liệu Cố Vấn Trưởng Sư Đoàn 18 Bộ Binh liền cắt cử toán cố vấn khác thay thế tức thì để điền khuyết cho Chiến Đoàn 52 (-) tại An Lộc. Trưởng toán là Thiếu Tá Raymond Haney và cố vấn phó là James Willbanks (cũng chính là tác giả của tập tài liệu cho vấn đề tham khảo này). Thành thật ca ngợi tinh thần trách nhiệm toàn thể toán cố vấn Sư Đoàn 18 Bộ Binh Quân Đoàn 3 (năm 1972).&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Trái lại toán cố vấn Mỹ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà thì hơi khác, qua hai sự kiện sau đây:&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;a.- Ngày 11-04-1972 trong lúc Trung Đoàn 8 Bộ Binh đang sắp toán tại sân bay Dầu Tiếng chờ trực thăng đến bốc thả vào An Lộc thì Trung Tá Abramawith Cố Vấn Trưởng Trung Đoàn 8 Bộ Binh đến nói với Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8 Mạch Văn Trường là : - Lệnh của MACV là nơi nào không an toàn thì Cố Vấn Mỹ có quyền không đến. An Lộc sắp trở thành chiến trường đẫm máu, toán Cố Vấn Mỹ Trung Đoàn 8 sẽ đi về Lai Khê, là hậu cứ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, không theo Trung Đoàn vào An Lộc !!! Đại Tá Trường đành phải chấp nhận sự không có mặt của toán Cố Vấn Mỹ khi Trung Đoàn 8 Bộ Binh đổ quân vào An Lộc.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;b.- Ngày 07-04-1972, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng di chuyển Bộ Chỉ Huy Hành Quân Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Cố Vấn Mỹ từ Lai Khê lên An Lộc (An Lộc là Quận Châu Thành của Tỉnh Lỵ Bình Long) để thống nhất chỉ huy các lực lượng Chính Quy và Diện Địa của Tiểu Khu Bình Long, tổ chức phòng thủ chống lại cuộc tấn công cấp Quân Đoàn của Việt Cộng âm mưu đánh chiếm Tỉnh Lỵ Bình Long (An Lộc). Nơi đây Công Binh Sư Đoàn đã làm sẵn một căn cứ dã chiến bằng bao cát lót vỉ sắt PAP (Plain Aluminum Plate) khá vững chắc cho Bộ Chỉ Huy Tiền Phuơng Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở phía Đông An Lộc gần ga xe lửa. Tình hình lúc này thì Tỉnh Lỵ Bình Long hoàn toàn bị Việt Cộng bủa lưới bao vây. Pháo binh địch đã bắt đầu bắn vào Tỉnh Lỵ, Địch chỉ mới bắn lai rai để điều chỉnh tác xạ vào các mục tiêu : sân bay, bãi đáp trực thăng, các căn cứ quân sự, và các mục tiêu khác nhu nhà thương, nhà thờ, chùa chiền, và các con đường chính dẫn vào thị xã nhất là các Bộ Chỉ Huy của Sư Đoàn 5 và của Tiểu khu Bình Long. Đại Tá Miller Cố Vấn Trưởng nói với Tướng Hưng : Vị trí Bộ Chỉ Huy Hành Quân Sư Đoàn 5 Bộ Binh làm bằng bao cát và vỉ sắt không chống được các loại pháo hạng nặng, hoả tiễn 122 ly của địch quân, nên toán cố vấn ở đây không có đủ an toàn. Ông và toán Cố Vấn Mỹ Sư Đoàn, sẽ rời An Lộc để về lại Lai Khê. Tướng Hưng không đồng ý cho Cố Vấn Mỹ rút khỏi An Lộc. Ông nói :&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;“Trận chiến sắp tới, Sư Đoàn rất cần Cố Vấn Mỹ để có sự yểm trợ hoả lực về không yểm của không lực Hoa Kỳ, Sự có mặt của Cố Vấn Mỹ ở lại đây rất cần thiết cho vấn đề giúp liên lạc với Không Quân Hoa Kỳ. Nếu Ông muốn có vị trí an toàn hơn, tôi sẽ đưa Ông đi tìm vị trí khác ở gần đây”. Tướng Hưng dắt Đại Tá Miller đi vào trung tâm Thị Xã An Lộc, cạnh bệnh viện Bình Long, nơi đây có một thành lính do quân đội Nhật Hoàng xây cất từ hồi Đệ Nhị Thế Chiến, đúc bằng xi măng cốt sắt, hầm sâu dưới mặt đất, có đường giao thông hào, rất kiên cố, có khả năng chống bom của phi cơ Đồng Minh. (Trại này trước đây được sử dụng làm Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long, có tên là Trại Đỗ Cao Trí. Năm 1971 Mỹ rút quân, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long dời về Compound Mỹ ở phía Nam An Lộc, Trại Đỗ Cao Trí đang bỏ trống). Quan sát xong, Đại Tá Miller không còn lý do từ chối nên toàn bộ Ban Cố Vấn Mỹ Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa, đã ở lại An Lộc với Tướng Hưng tử thủ suốt 3 tháng. Đại Tá Miller đã giúp Tướng Hưng rất nhiều trong việc sử dụng không lực Hoa Kỳ yểm trợ rất hữu hiệu cho chiến trường An Lộc.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Căn cứ thành chìm này còn có cái tên là “Thành Đỗ Cao Trí”, 800 thước phía Tây Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh cũ.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Một điểm mà chúng tôi muốn luận bàn thêm về Trận Chiến An Lộc, những cái MAY RỦI, VÔ TÌNH của Trận Chiến. Như trường hợp kể trên, nếu không có sự từ chối của Đại Tá Miller ở vào giờ phút chót đó, thì nơi địa điểm cũ (Hầm Nổi) là mục tiêu Pháo của Cộng Quân, đã được Cộng Quân điều nghiên và điều chỉnh toạ độ pháo xong xuôi, cho đến khi Cộng Quân mở cuộc mưa pháo vào An Lộc, căn cứ nổi đó trở thành BÌNH ĐỊA, hứng không biết bao nhiêu quả đạn pháo 130 ly và hoả tiễn, từ những ngày đầu cuộc chiến, và Bộ Chỉ Huy đầu não của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh nếu còn ở vị trí cũ, chắc chắn đã bị chôn vùi dưới đống bao cát và vỉ sắt tung rách tả tơi, trong đó toàn Bộ Tham Mưu kể cả Tướng Hưng có lẽ cũng đã bị chôn vùi và bị banh thây vào đêm 12 qua những ngày 13, 14, tháng 04 năm 1972 rồi. Đó có phải là một trong những cái may mắn do TRỜI ĐỊNH hay không?&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Quyết định của Tướng Hưng cho lệnh Chiến Đoàn 52 (-) Bộ Binh phá huỷ hết các Chiến Cụ Nặng, chứng tỏ Tướng Hưng là một vị TƯỚNG GIỎI, TƯỚNG BIẾT ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HÌNH VÀ HOÀN CẢNH, LÀ MỘT TƯỚNG BIÊT TRỌNG TÍNH MẠNG BINH SĨ HƠN LÀ CHIẾN CỤ, nhờ vậy các binh sĩ Chiến Đoàn 52 (-) Bộ Binh mới được rảnh rổi tay chân để quần thảo với quân địch đông hơn gấp nhiều lần.&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/302179957027946240-2660729484943322117?l=anloc72.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anloc72.blogspot.com/feeds/2660729484943322117/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2009/08/chien-thang-loc-1972.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/2660729484943322117'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/2660729484943322117'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2009/08/chien-thang-loc-1972.html' title='CHIẾN THẮNG AN LỘC 1972'/><author><name>quanbao18</name><uri>http://www.blogger.com/profile/16305558577772188899</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3XR_1XGSI/AAAAAAAAA24/QVEirRTo2pU/s72-c/TrungtuongNguyenVanMinh.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-302179957027946240.post-8100696249305490675</id><published>2009-08-29T19:54:00.000-07:00</published><updated>2009-09-08T21:38:33.163-07:00</updated><title type='text'>Tài Liệu chiến sử "Trận Bình Long" do Phòng 5/Bộ TTM thực hiện</title><content type='html'>Đây là cuốn chiến sử "Trận Bình Long" do Phòng 5/Bộ Tổng Tham Mưu thực hiện vào năm 1973 với sự đóng góp tài liệu của các đơn vị tham chiến, được sự thảo duyệt của các vị tướng lãnh dự trận và được sứ phối hợp yểm trợ về tài liệu, hình ảnh, không ảnh của các cơ quan tham mưu thuộc Bộ Tổng Tham Mưu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Bấm vào trang để mở lớn ra)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3pPwRFBoI/AAAAAAAAA9g/nJUl6EtiMnM/s1600-h/p11+Muc+Luc.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 194px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376709987014084226" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3pPwRFBoI/AAAAAAAAA9g/nJUl6EtiMnM/s320/p11+Muc+Luc.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3pMQ4QDFI/AAAAAAAAA9Y/LM6b6ROUACk/s1600-h/p12+Chuong+4.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 208px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376709927048842322" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3pMQ4QDFI/AAAAAAAAA9Y/LM6b6ROUACk/s320/p12+Chuong+4.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3pIe0E9gI/AAAAAAAAA9Q/R0Q0DZ5xXdU/s1600-h/p15.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376709862069958146" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3pIe0E9gI/AAAAAAAAA9Q/R0Q0DZ5xXdU/s320/p15.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3pEcyTMII/AAAAAAAAA9I/Xmk36t4VFjk/s1600-h/p17.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376709792806154370" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3pEcyTMII/AAAAAAAAA9I/Xmk36t4VFjk/s320/p17.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3o6WEGEGI/AAAAAAAAA84/Fsbnw-Wi3KQ/s1600-h/p21.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 222px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376709619203051618" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3o6WEGEGI/AAAAAAAAA84/Fsbnw-Wi3KQ/s320/p21.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3o1M8rmLI/AAAAAAAAA8w/fkKzWx0o1fo/s1600-h/p22+Chuong+1.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 244px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376709530856691890" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3o1M8rmLI/AAAAAAAAA8w/fkKzWx0o1fo/s320/p22+Chuong+1.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3ovJyAouI/AAAAAAAAA8o/RjDp8P0LJfM/s1600-h/p28.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 221px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376709426927411938" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3ovJyAouI/AAAAAAAAA8o/RjDp8P0LJfM/s320/p28.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3oq3IK8xI/AAAAAAAAA8g/iCAmmKHyFQI/s1600-h/p29.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 219px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376709353200612114" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3oq3IK8xI/AAAAAAAAA8g/iCAmmKHyFQI/s320/p29.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3olNEI0bI/AAAAAAAAA8Y/gEOh5L2OSao/s1600-h/p30.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 228px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376709256010060210" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3olNEI0bI/AAAAAAAAA8Y/gEOh5L2OSao/s320/p30.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3oPZachnI/AAAAAAAAA8Q/bhlHQZA4k8I/s1600-h/p31.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 235px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376708881367729778" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3oPZachnI/AAAAAAAAA8Q/bhlHQZA4k8I/s320/p31.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3oJuOAfxI/AAAAAAAAA8I/UaXCNSsSAAE/s1600-h/p32.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 239px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376708783873490706" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3oJuOAfxI/AAAAAAAAA8I/UaXCNSsSAAE/s320/p32.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3n-Bvq7qI/AAAAAAAAA8A/iFHS9KBqVvE/s1600-h/p33+Chuong+2.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 235px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376708582956527266" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3n-Bvq7qI/AAAAAAAAA8A/iFHS9KBqVvE/s320/p33+Chuong+2.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3n3waya6I/AAAAAAAAA74/TUwja4CzRAU/s1600-h/p35.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376708475226319778" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3n3waya6I/AAAAAAAAA74/TUwja4CzRAU/s320/p35.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3n0Hk2_ZI/AAAAAAAAA7w/Jo7npwqE6hE/s1600-h/p36.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 235px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376708412723101074" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3n0Hk2_ZI/AAAAAAAAA7w/Jo7npwqE6hE/s320/p36.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nsP4PjrI/AAAAAAAAA7o/Vwe-k-dmigY/s1600-h/p37.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 230px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376708277512933042" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nsP4PjrI/AAAAAAAAA7o/Vwe-k-dmigY/s320/p37.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nm7K05SI/AAAAAAAAA7g/FnxeLo5Y54k/s1600-h/p38.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 234px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376708186054386978" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nm7K05SI/AAAAAAAAA7g/FnxeLo5Y54k/s320/p38.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nbEQik1I/AAAAAAAAA7Y/3hQa94bsucs/s1600-h/p39.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 243px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707982335841106" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nbEQik1I/AAAAAAAAA7Y/3hQa94bsucs/s320/p39.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nVljDV7I/AAAAAAAAA7Q/WIHMG9fkASk/s1600-h/p40.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 234px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707888192640946" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nVljDV7I/AAAAAAAAA7Q/WIHMG9fkASk/s320/p40.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nPwtRvGI/AAAAAAAAA7I/oSHYqQXMJ9k/s1600-h/p41.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707788109102178" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nPwtRvGI/AAAAAAAAA7I/oSHYqQXMJ9k/s320/p41.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nMacfoVI/AAAAAAAAA7A/l5W7M7tI7U4/s1600-h/p42.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707730593522002" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nMacfoVI/AAAAAAAAA7A/l5W7M7tI7U4/s320/p42.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nIRJjP1I/AAAAAAAAA64/-MuhwQLVqUc/s1600-h/p43.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707659378671442" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nIRJjP1I/AAAAAAAAA64/-MuhwQLVqUc/s320/p43.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nEqSm2zI/AAAAAAAAA6w/UJD5mJpQypg/s1600-h/p44.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707597408066354" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nEqSm2zI/AAAAAAAAA6w/UJD5mJpQypg/s320/p44.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nA46qJsI/AAAAAAAAA6o/AjLkrm3kpR8/s1600-h/p45.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707532614674114" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3nA46qJsI/AAAAAAAAA6o/AjLkrm3kpR8/s320/p45.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3m9IfmIpI/AAAAAAAAA6g/odTDm0LlvHU/s1600-h/p46.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707468076655250" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3m9IfmIpI/AAAAAAAAA6g/odTDm0LlvHU/s320/p46.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3m5ix3QYI/AAAAAAAAA6Y/fTlPem45wGA/s1600-h/p47.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707406413119874" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3m5ix3QYI/AAAAAAAAA6Y/fTlPem45wGA/s320/p47.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3m1VdMnJI/AAAAAAAAA6Q/U0hQ66MDpJ0/s1600-h/p48.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707334117301394" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3m1VdMnJI/AAAAAAAAA6Q/U0hQ66MDpJ0/s320/p48.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mxbSXLYI/AAAAAAAAA6I/1-yL7WoeI6c/s1600-h/p49.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707266962992514" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mxbSXLYI/AAAAAAAAA6I/1-yL7WoeI6c/s320/p49.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mtGuyPBI/AAAAAAAAA6A/HL7Ub9-y34o/s1600-h/p50.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707192725584914" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mtGuyPBI/AAAAAAAAA6A/HL7Ub9-y34o/s320/p50.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mpUtzxpI/AAAAAAAAA54/YGUeeZKf1QA/s1600-h/p51.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707127760111250" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mpUtzxpI/AAAAAAAAA54/YGUeeZKf1QA/s320/p51.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mmDLex9I/AAAAAAAAA5w/FXHagRC1tyw/s1600-h/p52.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707071513118674" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mmDLex9I/AAAAAAAAA5w/FXHagRC1tyw/s320/p52.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mibORtCI/AAAAAAAAA5o/ZrOhiLg-_BI/s1600-h/p53.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376707009247818786" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mibORtCI/AAAAAAAAA5o/ZrOhiLg-_BI/s320/p53.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3meuylEGI/AAAAAAAAA5g/_RJdZL75cmA/s1600-h/p54.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376706945780879458" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3meuylEGI/AAAAAAAAA5g/_RJdZL75cmA/s320/p54.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3ma0H8XyI/AAAAAAAAA5Y/DWKRIVC8r9g/s1600-h/p55.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376706878493187874" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3ma0H8XyI/AAAAAAAAA5Y/DWKRIVC8r9g/s320/p55.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mXAlHQOI/AAAAAAAAA5Q/o3qXdey8J5A/s1600-h/p56.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376706813117284578" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mXAlHQOI/AAAAAAAAA5Q/o3qXdey8J5A/s320/p56.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mTZFdQ9I/AAAAAAAAA5I/tNdk3i1sh74/s1600-h/p57.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376706750975919058" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mTZFdQ9I/AAAAAAAAA5I/tNdk3i1sh74/s320/p57.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mO1rV2wI/AAAAAAAAA5A/a7_uwl7AjgU/s1600-h/p58.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376706672751663874" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mO1rV2wI/AAAAAAAAA5A/a7_uwl7AjgU/s320/p58.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mLKYCw2I/AAAAAAAAA44/23BLJxGFzU4/s1600-h/p59.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376706609588388706" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mLKYCw2I/AAAAAAAAA44/23BLJxGFzU4/s320/p59.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mG86ZW9I/AAAAAAAAA4w/pitDMvxdq1k/s1600-h/p60.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376706537254902738" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3mG86ZW9I/AAAAAAAAA4w/pitDMvxdq1k/s320/p60.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3l8ZvgWSI/AAAAAAAAA4o/oeDLZd_Whtc/s1600-h/p61.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376706356015290658" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3l8ZvgWSI/AAAAAAAAA4o/oeDLZd_Whtc/s320/p61.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3l4FZ6kxI/AAAAAAAAA4g/7I4WozI1XUs/s1600-h/p62.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376706281836548882" border="0" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3l4FZ6kxI/AAAAAAAAA4g/7I4WozI1XUs/s320/p62.jpg" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3lzgvfn1I/AAAAAAAAA4Y/5qF89UZRfEc/s1600-h/p63.jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 226px; FLOAT: left; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5376706203275468626" border="0" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3lzgvfn1I/AAAAAAAAA4Y/5qF89UZRfEc/s320/p63.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CÒN TIẾP...&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/302179957027946240-8100696249305490675?l=anloc72.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anloc72.blogspot.com/feeds/8100696249305490675/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2009/09/tai-lieu-chien-su-tran-binh-long-do.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/8100696249305490675'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/8100696249305490675'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2009/09/tai-lieu-chien-su-tran-binh-long-do.html' title='Tài Liệu chiến sử &quot;Trận Bình Long&quot; do Phòng 5/Bộ TTM thực hiện'/><author><name>quanbao18</name><uri>http://www.blogger.com/profile/16305558577772188899</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Sp3pPwRFBoI/AAAAAAAAA9g/nJUl6EtiMnM/s72-c/p11+Muc+Luc.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-302179957027946240.post-5182251361746887223</id><published>2009-08-21T16:30:00.000-07:00</published><updated>2009-08-30T16:42:41.615-07:00</updated><title type='text'>An Lộc: Địa Ngục Trần Gian Của Quân Dân Miền Nam Trong Năm 1972</title><content type='html'>Hồ Đinh TĐ1/TrĐ43/SĐ18BB Kbc 4424&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng tặng các bạn hiện ở Hoa Kỳ, từng tham chiến trận An Lộc như Đại Uý Cao Khắc Tiệp (Thiết giáp SĐ9BB), Đại Uý Đổ Minh Hứng (Liên Đoàn 5BDQ), Trung Uý Lê Ngọc Thạch (PB/SĐ9BB)và Thượng sĩ Nguyễn Huệ (Thiết Ky/SD21BB).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bước sang những năm đầu của thế kỷ XX, lợi dụng sự ổn định tạm thời của Đông Dương, thực dân Pháp xúc tiến việc khai khẩn đất hoang tại Cao Mên và vùng Đong Nam Phần, để trồng cao su. Hai đại lý hành chánh được gấp rút thành lập tại Hớn Quản (1908) và Bà Rá (1920), nhằm mục đích đôn đốc và chỉ huy các công tác khai rừng và mở mang đường xá. Hai quốc lộ 13, 14 cũng như con đường xe lửa Sài Gòn-Lộc Ninh được hoàn thành, để vận chuyển cao su, của công ty Mimot, tại các đồn điền Krek, Chup, Prek, Kak, Chamcar An Đông..ở Kompong Cham, Snoul, Peanch Chang (Cao Mên), Phước Long, Bình Long, Bình Dương và Biên Hòa.. về Sài Gòn, để xuất cảng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng từ đó, máu người Việt và đồng bào thiểu số Stieng, Biệt, Mnong.. đổ hằng ngày trên vùng đất đỏ. Họ là phu đồn điền từ các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Phần, vì nghèo túng, mất mùa nên đành lìa bỏ quê cha đất tổ, lũy tre làng và mồ mã ông bà, để vào vùng ma thiêng nước độc, bán mình làm thân nô lệ suốt đời cho các công ty khai thác cao su của thực dân Pháp (Société Des Plantations Des Terres Rouges). Bên cạnh đó, còn có các phu làm đường 13,14, đường xe hỏa. Nhưng dù là ai chăng nữa, Việt hay Thượng, tất cả cùng chung một số phận, chịu sự hành hạ dã mang của bọn cặp rằng Pháp và dân bản xứ. Ngày ngày tháng tháng, những nấm mồ hoang vô chủ, bất hạnh, cứ nối tiếp nhau, mọc theo chiều dài của con đường từ Bến Cát, Lai Khê, Chơn Thành... cho tới tận An Lộc, Lộc Ninh. Đời đã buồn rầu tận tuyệt, nên cảnh vật ở đây lúc nào cũng thấy cô đơn lạnh lẽo, nhất là màu đất đỏ, đã khiến đường 13 trở thành con đường máu hay tử lộ, ngay từ thời Pháp thuộc. Trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975), do cọng sản quốc tế Hà Nội chủ xướng, con đường trên lại càng thêm ghê rợn, với những tại họa trùng hằng. Ở đâu, lúc nào mọi người cũng đều có thể bỏ mạng, vì các tai ương rất bất ngờ, do mìn bẩy, bom đạn, sự hành quyết và khủng bố của bộ đội Bắc Việt, nhằm vào mọi đối tượng thù nghịch, bất kể là dân-lính, Thượng hay Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng đó cũng chỉ là chuyện nhỏ khi so sánh với mạng người lá rụng, mà Việt Cộng đã tàn sát dã man thường dân vô tội, khi tìm đường lánh nạn chiến tranh, từ Lộc Ninh về An Lộc và sau đó lại bỏ chốn địa ngục trần gian, chạy về Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch, Tân Khai, Tàu Ô, Chơn Thành, Lai Khê. Sự tàn ác hung tợn có một không hai của bộ đội Bắc Việt, đã khiến cho nhũng kẻ luôn toặc mồm tự xưng là quân giải phóng, đời đời kiếp bị bia miệng, chữ nghĩa trong dòng sử Việt, cũng như dư luận thế giới văn minh, nguyền rủa khinh miệt, vì hành động mất nhân tính không xứng đáng làm người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, sự đứng vững của thị xã nhỏ bé An lộc, dù chỉ còn là đống gạch vụn, sau 68 ngày bị 4 sư đoàn chính qui cọng sản vây hãm, tấn công biển người, chiến xa, đại pháo, hỏa tiển có lúc lên tới 8000 trái/1 ngày. Sự kiện trên, đã khiến địa danh An Lộc xếp hàng đầu trong những trang quân sử thế giới như Stalingrad, Guernica, Arden, Berlin, Tobrak và cả Điện Biên Phủ, về mức độ giao tranh ác liệt, sư tàn phá bởi bom đạn nhưng tận tuyết nhất vẫn là thảm họa chiến tranh, đối với ngàn vạn thường dân bị kẹt trong thành phố, không di tản được. Sau này, những nạn nhân may mắn còn sống sót khi tàn cơn binh lửa, ai nấy đều cả quyết rằng, sở dĩ họ thoát chết, đều do Trời Phật thiêng liêng che chở, bảo hộ, nên đã không bị chết tập thể oan khiên, mà đao phủ thủ, chính là bộ đội miền Bắc vì bị tuyên truyền đầu độc từ lúc mới tập ăn, tập nói, nên coi ai cũng là ngụy, là kẻ thù. Chiến tranh bắt buộc phải hủy diệt đối phương, để đạt chiến thắng nhưng sự kiện quân Bắc Việt, tập trung hỏa lực, pháo vào các khu vực thường dân như nhà thờ, trường học nhất là bệnh viện, lúc đó có hơn 10.000 đồng bào tìm tới lánh nạn. Tàn nhẫn dã man hơn, là bắt trẻ con, đàn bà và những người lớn tuổi, bị kẹt tại các đồn điền cao su, đem trói họ vào các địa điểm đặt pháo hay xua họ đi trước làm bia đỡ đạn và khai quang các bãi mìn của QLVNCH. Riêng đàn ông, bất kể là thanh niên trai tráng, trẻ con và người già, đều bị xung làm lao công chiến trường, đào hầm, tải đạn... dưới các trận mưa pháo của cả hai phía. Tất cả nói lên sự thật về bộ mặt hung tàn ác độc của cọng sản VN, cho nên đâu có ai thấy lạ, khi biết rằng trong suốt 20 năm chiến tranh, Việt Cộng đi tới đâu, đồng bào miền Nam, lũ lượt bỏ nhà cửa, tài sản, chạy lấy mạng. Thảm trạng đến bây giờ vẫn không có gì thay đổi, nếu người Việt cả nước, kể luôn những cây cột đèn, được phép xuất ngoại, chắc chắn ai nấy đều hồ hởi dông hết ra nước ngoài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1-Tỉnh Bình Long Và Thị Xã An Lộc :&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bình Long xưa là Hớn Quản, giang sơn của những đàn nai gặm cỏ tranh, đất đai của đồng bào thuộc bô lạc Stiêng, một sắc dân thiểu số có trình độ và tập quán, gần giống người Kinh. Tỉnh Bình Long được các vị Chúa Nguyễn Nam Hà, khai thác từ cuối thế kỷ 17. Từ năm 1832, thời vua Minh Mạng Nhà Nguyễn, đất Hớn Quản thuộc tỉnh Biên Hòa. Năm 1956, tổng thống Ngô Đình Diệm, cắt một phần phía bắc tỉnh Biên Hòa, sáp nhập vào với Hớn Quản, để thành lập tỉnh Bình Long, thuộc Vùng III chiến thuật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;`Tỉnh giáp Phước Long, Tây Ninh, Bình Dương và Kampuchia. Vào năm 1972, Bình Long có diện tích 2240 km2 với dân số chừng 88.000 người, chia thành 3 quận: Lộc Ninh, An Lộc và Chơn Thành. Điạ thế tỉnh này bị cô lập, vì nằm giữa hai chiến khu C-D của VC, lại còn tiếp giáp với Kampuchia, có khu hậu cần Mỏ Vẹt của Bắc Việt. Bình Long nằm giữa hai con sông Sài Gòn và Bé, có hằng trăm suối con, sông nhánh chằng chịt như Prektéhléa, Tonlétron, Tonléchan... Điạ thế trùng trùng điệp điệp rừng cao su, tre mây và cỏ tranh mọc cao hơn đầu người, tạo thành những con đường chuyển quân chiến lựợc, rất lý tưởng cho Bắc Việt, mà không sợ bị phi cơ thám thính khám phá, ngoại trừ các toán Lực Lượng Đặc Biệt., hoạt động bí mật suốt vùng biên giới Miên-Việt. Thị xã An Lộc nằm trong phạm vi xã Tân Lập Phú, rộng chừng 740 km2. Bao bọc quanh thành phố là những ngọn đồi chiến lược, mang tên đồi 169, đồi Gió và đồi Đồng Long. Năm 1972, dân số trong thị xã chừng 44.000 người. Quốc lộ 13 từ cầu Bình Lợi, chạy suốt tỉnh Bình Dương, ngang thị xã An Lộc, tới thị trấn Lộc Ninh và biên giới Miên ở Sóc Pénang. Từ đây còn đường phân làm hai ngã, một là đường 13 tiếp tục vượt biên giới, chạy tới Kampong Cham và tỉnh Kratié. Nhánh thứ hai mang tên quốc lộ 14, chạy song song với biên giới Miên Việt, đi Bố Đức, Bù Gia Mập (Phước Long), Đức Lập (Quảng Đức)... Tại Chơn Thành, đường 13 cũng phân nhánh, thành LTL13 và QL14B, chạy qua các quận Đôn Luân, Đức Phong(Phước Long), tới Kiến Đức, tỉnh lỵ Gia Nghĩa (Quảng Đức)..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do các yếu tố địa lý đặc biệt trên, nên trong suốt cuộc chiến, Hà Nội luôn có ý định chiếm cho bằng được tỉnh này, để đặt thủ đô, cho cái mật trận ma, qua danh xưng trên giấy tờ báo chí ‘ Mặt trận giải phóng miền Nam ‘.. Nhưng cuối cùng đã không đạt được mục đích, dù mùa hè năm 1972, đã xua hơn 4 sư đoàn chính qui, để tấn công cưỡng chiếm tỉnh này. Bình Long chỉ bị bỏ ngõ, vì tuân theo lệnh buông súng đầu hàng giặc của tổng thống Dương Văn Minh. Nhưng vào giây phút cuối cùng (30-4-1975), Vị tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, trấn đóng tỉnh Bình Long, là Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ đã tự sát giữa sân cờ Bộ Tư Lệnh ở Lai Khê. Cái chết liệt oanh của Ông đầy ý nghĩa, đã giữ được danh dự cho quân dân Miền Nam, đồng thời bảo toàn được khí tiết anh hùng, của người lính VNCH, luôn bất khuất trước mọi kẻ thù xâm lăng cướp nước. Bình Long-An Lộc, đã đi vào quân sử VN và thế giới, từ năm 1972. Chính nơi này nói riêng, Kontum, Quảng Trị, Bình Định nói chung, đã làm cho Đại tướng Tổng Tư Lệnh quân đội nhân dân miền Bắc, là Võ Nguyên Giáp, đã đánh mất cái hào quang chiến thắng Điện Biên Phủ năm nào. Trong trận này, Giáp đã nướng trọn 10.000 vạn bộ đội miền Bắc, cùng với số quân viện xe tăng, đại pháo mới toanh và tối tân, của Nga Tàu chi viện năm 1971. Cũng từ đó, Giáp bị Lê Duẫn và Chính Trị Bộ hạ bệ, bắt ngồi chơi xơi nước với hàm ‘Phó thủ tướng’ cai đẻ và ngừa thai, cho tới hôm nay vẫn không được phục hồi quyền lực, dù sắp về chầu tổ Mao-Mac-Lê-Hồ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2-Nguyên Nhân Hà Nội Gây Cuộc Chiến Mùa Hè 1972 :&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1955-1975), rõ ràng Bắc Việt luôn luôn thất bại trên chiến trường, từ nới này tới nơi khác. Thế nhưng trên bàn giấy, báo chí, hậu phương VC lại đạt thắng lợi nhờ giỏi tuyên truyền và trên hết là được phe ta tuyên truyền giúp. Nhờ vậy, năm 1954 trận Điện Biên Phủ đã làm sụp đổ chính phủ của thủ tướng Pháp Joseph Laniel. Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, qua hình ảnh một vài tên đặc công VC đột nhập được vào Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, do bọn phóng viên đưa lên truyền hình, đã làm xáo động niềm tin của dân chúng Hoa Kỳ, dù mặt thật trong trận này, Bắc Việt gần như nướng sạch cán binh bộ đội tham chiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc báo chí xưa nay đã loan tải rằng tổng thống Johnson, do ảnh hưởng trận Mậu Thân, nên không muốn tái tranh cử kỳ 2. Tất cả đều là những bí ẩn của lịch sử, cho dù nay có được giải mã, cũng chỉ là những điều bên lề, còn sự thật biết đâu mà mò. Năm 1972 nước Mỹ lại sắp sửa đi bầu tổng thống. Lần trước vì sinh tồn, VNCH đã chống lại đảng Dân Chủ, đang có ý đinh hòa hợp bán đứng Miền Nam cho Bắc Việt. Do trên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã không tới Paris tham dự hội nghị, do Hoa Kỳ dàn dựng. Nhiều người nói, vì cớ đó mà Nixon được thắng cử. Năm 1972 tình hình nưóc Mỹ đang phân hóa trầm trọng, vì các cuộc biểu tình phản chiến, đòi Mỹ phải rút hết quân đội về nước. Cọng sản Hà Nội lúc đó, tuy vẫn còn chết điếng về những thất bại liên tiếp, từ Mậu Thân 1968, các chiến dịch hành quân Việt Mỹ năm 1970 tại Kampuchia và mới nhất là trận đại chiến Hạ Lào 1971. Nhưng đã liều mạng mở một trận đánh lớn, mục đích đổ thêm lửa vào các đám cháy khắp nước Mỹ, quậy thêm phong trào phản chiến lúc đó, đã lên tới tuyệt đỉnh, qua vụ sinh viên biểu tình tại đại học Kent, bị vệ binh quốc gia bắn chết nhiều người. Đánh lớn không cần biết ăn thua, miển là chứng tỏ với công luận Mỹ, qua báo chí truyền thông Hoa Kỳ và Tây Phương, vốn thâm thù và ganh ghét VNCH, nên sẳn sàng bóp méo sự thật, xuyên tạc cho rằng kế hoạch VN hoá chiến tranh của Hoa Kỳ, khi rút quân về nước, đã thất bại. Làm như vậy, khiến cho Nixon của đảng cọng hòa thất cử, giúp đảng dân chủ lúc đó thuộc thành phần thiên tả, đắc cử nắm quyền, sẽ giúp cho VC cưỡng chiếm mau lẹ và dễ dàng VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, sự kiện TT Nixon tuyên bố với Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai tại Bắc Kinh, trong chuyến thắm viếng Tàu vào tháng 2&amp;shy;1972, cho thấy Hoa Kỳ đã công khai bỏ chạy. Đây cũng là một lý do vàng ròng, để Bắc Bộ Phủ tin tưởng là nếu không có Hoa Kỳ tham chiến, QLVNCH sẽ xuống dốc bỏ chạy, vì thiếu quân trang dụng cũng như vũ khí đạn dược, nhất là sự yểm trợ hùng hậu của không quân Mỹ. Một lý do nữa, vào cuối năm 1971, Lê Duẫn sang Liên Xô, còn Phạm Văn Đồng tới Tàu cầu viên mua chịu, đã được hai đàn anh cung cấp rất nhiều vũ khí tối tân như chiến xa T54,55, PT76, đại bác phòng không 23 và 57 ly, cùng với nhiều hỏa tiễn tầm nhiệt hạ máy bay SA7. Tất cả các yếu tố trên, cộng với sự tin tưởng mà báo chí thiên tả cùng trí thức đối lập tại Sài Gòn cung cấp, nên Hà Nội tin tưởng là lần này, khi quân Bắc vào, người miền Nam tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Huế, Nha Trang... sẽ hồ hởi ra tận xa lộ đón quân về.&lt;br /&gt;Chính vậy, nên Lê Duẫn tức tốc ban hành nghị quyết số 13, ra lệnh tổng tấn công VNCH. Quân số tham dự, gồm 13 công trường chính qui Bắc Việt (khoảng 136.400 người). Ngoài ra còn thêm các đơn vị đang hiện diện tại miền Nam từ trước. Cuộc chiến mùa hè năm 1972, được đánh giá là tàn khốc nhất trong quân sử VN và thế giới, được mở màn ngày 30-3-1972 tại Quảng Trị, ngày 5-4-1972 tại Lộc Ninh (Bình Long) và 6-4-1972 tại Tân Cảnh (Kon Tum). Ngoài ba mặt trận chính trên, Hà Nội còn mở thêm các mặt trận khác cũng rất khốc liệt tại nhiều chiến trường, mục đích làm phân tán mỏng lực lượng của QLVNCH, vốn không đủ để trải dài trên một lãnh thổ rộng lớn của Miền Nam. Song song với mặt trận quân sự khốc liệt, VC còn mở thêm một mặt trận chính trị, dùng báo chí của miền Nam để tấn công hậu phương và đâm sau lưng những người lính trận, đang đội bom đạn, lội trong mìn chông của quân Bắc, để giữ vửng Sài Gòn, Huế, Nha Trang, Cần Thơ và những sinh mạng của bọn ký sinh trùng lúc đó, nhìn biết có Thế Nguyên, Nguyễn văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung, Nhất Hạnh, Nguyễn Trọng Văn, Lữ Phương, Trịnh Công Sơn... qua các tờ Đối Diện, Trình Bày, Tin Văn, Hành Trình, Đất Nước. Tất cả đều viết lách theo mệnh lệnh của cán bộ trí vận cọng sản Nguyễn Văn Bổng và đơn đặt hàng từ Bắc Bộ Phủ. Thù trong giặc ngoài, khiến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải ban hành lệnh ‘Tổ Quốc Lâm Nguy‘ vào ngày 9-5-1972 sau khi thành phố Quảng Trị bị tạm thời lọt vào tay cọng sản 8 ngày. Kế đó vào ngày 28-6-1972, Tổng thống lại ban hành tình trạng ‘Thiết Quân Luật ‘ và được Quốc Hội VNCH ủy quyền quyết định các việc cơ mật qốc gia. Đây là một thái độ chính đáng và thực tế, mà bất cứ một quốc gia nào, kể cả Hoa Kỳ cũng phải làm vậy. Thế nhưng qua sự xuí giục của Hà Nội và trên hết lợi dụng tự do báo chí, dân chủ của VNCH, các trí thức khoa bảng nằm vùng và thân cộng, lại quậy phá hậu phương trên các báo Tin Điện, Tia Sáng, Thần Chung, Đối Diện.. rằng chính phủ độc tài, lợi dụng tình thế bắt ép dân chúng đi lính đánh thuê cho Mỹ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3-Đại Chiến Long Trời Lỡ Đất Vào Mùa Hè - 1972 :&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa lúc phong trào chống đối cuộc bầu cử tổng thống năm 1971, còn nóng bỏng qua sự quậy phá của báo chí thân cộng tại Sài Gòn, Huế, thì tín quân Bắc Việt ngang nhiên chà đạp công luận quốc tế, xé bỏ Hiệp định ngưng bắn năm 1954 đã ký tại Genève (Thụy Sĩ), ngang nhiên vượt vĩ tuyến 17 tấn công VNCH, làm cho cả nước lo sợ và bàng hoàng xúc động. Thật sự không phải cặp Nixon&amp;shy;Kissinger thương tiếc gì dân tộc VN, mà chỉ muốn đạt được ưu thế trên bàn hội nghị với Bắc Việt, trong một hoàn cảnh không thể làm gì được hơn, khi Hoa Kỳ đã quyết định bỏ rơi VNCH. Đó là lý do khiến Nixon ra lệnh cho các lực lượng Hải-Không Quân Hoa Kỳ, trở lại chiến trường Miền Nam, đồng thới mở chiến dịch Linebacker I-II, phong tỏa hải phận và oanh kích lãnh thổ Bắc Việt. Tất cả hành động của Nixon sau này được Tư Lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương lúc đó là Đô Đốc Sharp, qua tac phẩm ‘Strategy For Defeat Vietnam‘ rằng ‘Nixon sở dĩ làm vậy, chẳng qua muốn Bắc Việt trở lại bàn hội nghị Ba Lê mà thôi. Có thể Nixon mới hy vọng tái đắc cử. Mọi sự đều không có dính dáng gì tới số phận của người Miền Nam VM ‘. Đó là sự bi thảm thê thiết của các dân tộc nhược tiểu, muốn không chấp nhận cũng đâu có được, nhất là thân phận của người lính VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong trận đại chiến này, tổng tư lệnh miền bắc là đại tướng Võ Nguyên Giáp, trước khi ban lệnh xuất quân, đã tuyên bố ‘để đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào, dâng chiến thắng cho đảng, nếu cần phải hy sinh thêm vài ba triệu cán binh bộ đội miền Bắc, Giáp cũng hồ hởi ‘. Và để thực thi lời hứa, kỳ này VC xử dụng binh pháp của Liên Xô, đem hết bộ đội của miền Bắc và tất cả vũ khí tối tân vừa được viện trợ mua chịu vào Nam, chỉ để lại hai công trường trấn đóng tại Lào. Ban lệnh giết hết các đối tượng (dân lẫn lính) trên đường tiến quân, một hành động tàn ác dã man đâu có thua gì quân Hung Nô, Mông Cổ, Phát xít Đức và Quân phiệt Nhật. Đây là minh chứng rõ ràng nhất, để chúng ta những người may mắn sống còn sau cuộc chiến, giải đáp và định nghĩa đúng mức hai chữ giải phóng của VC.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo kế hoạch hành quân của Giáp, hai sư đoàn 304, 308 + 4 trung đòan biệt lập mang số 126 (đặc công), 31, 246, 270 thuộc B5 +400 chiến xa của trung đoàn 203,204 + ba trung đoan pháo nặng 38,38,84... tổng cộng hơn 40.000 người, đồng loạt vượt biên giới tấn công Quảng Trị. Ở phía nam, cùng thời gian trên sư đòan 324-B + hai trung đoàn biệt lập 5, 6 trong vùng thung lũng A-Shau, tấn công Huế và Đà nẳng. Về phía VNCH, quân Mỹ coi như đã rút về nước gần hết, chỉ còn duy nhất lữ đoàn 196 bộ binh, bảo vệ hai phi trường Phú Bài và Đà Nẵng. Tóm lại việc bảo vệ lãnh thổ tại Quân Đoàn I và Vùng I chiến thuật, hoàn toàn do QLVNCH đảm trách. Tại tỉnh Quảng Trị, khi quân Bắc Việt vượt tuyến tấn công, ở đây có Sư đoàn 3 bộ binh và 2 Lữ Đoàn Thủy quân lục chiến 147 + 258 tăng phái. Theo sử liệu cùng với tất cả các nhân chứng từng tham dự cuộc chiến, hiện vẫn còn, đã quả quyết rằng việc Sư Đoàn 3 bộ binh rối loạn quá sớm, không phải vì binh sĩ của đơn vị này sợ chết mà rã ngủ. Nguyên do chính vì sư đoàn này mới được thành lập vào cuối năm 1971 sau chiến địch Lam Sơn 719. Các đơn vị cơ hữu, chỉ có Trung Đoàn 2 bộ binh (của SD1BB) là thiện chiến, còn hai Trung Đoàn 56 +57 tân lập, với quân số phần lớn là Địa Phương Quân của Vùng 1 CT, binh sĩ quân dịch và lao công đào binh. Sau này khi được tái trang bị, Sư đoàn 3 bộ binh dưới quyền của Chuẩn tướng Nguyễn Duy Hinh, đã đạt được nhiều chiến công hiển hách tại Quảng-Đà, cho tới khi mất nước. Tại mặt trận Cao nguyên, Giáp tung vào công trường 2 và 320 + một trung đoàn chiến xa, để tấn công Kontum, đồng thời cho Sư đoàn 711 quấy rối Quảng Nam, Quảng Ngãi cùng Sư đoàn 3 Sao vàng, tấn công cắt đứt quốc lộ 19 và các quận miền bắc tỉnh Bình Định. Cuối cùng là mặt trận biên giới, Giáp tung vào bốn sư đoàn 5,7,9 và công trường Bình Long +200 chiến xa với quân số hơn 40.000 quân. Tất cả xuất phát từ mật khu Lưỡi Câu (Mimot, Snoul), vượt biên giới Miên, đồng loạt tấn công vào quận Lộc Ninh sáng ngày 5-4-1972 và thị xã An Lộc ngày 6-4-1972. Đồng thời Sư đoàn 1VC cũng gây rối nhiều quận lỵ, dọc theo biên giới Miên-Việt tại Vùng IV chiến thuật. **An Lộc, Địa Ngục Trần Gian Của Dân-Lính Trong 68 Ngay Bị Vây Hãm. Cựu tổng thống Nixon, năm 1983 đã viết trong hồi ký ‘Dù tất cả không lực trên thế giới, kể cả các cuộc oanh tạc Hà Nội, Hải Phòng... nhưng sẽ không bao giờ cứu nổi Nam Việt Nam, nếu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không thể giữ được Quảng Trị, Kom Tum và An Lộc‘.Tướng hồi hưu Pháp là Vanuxem, từng chiến đấu nhiều năm tại VN, cũng đã viết những lơi ca tụng quân đội Miền Nam rất nồng nàn, trong tác phẩm của mình ‘Cuộc thử lửa đến rất mau, sau khi quân Mỹ rút hết về nước. Đây là thành tích quân sự lẫy lừng nhất của QLVNCH‘. Tuy nhiên muốn biết chính xác mức độ ác liệt của một trận chiến, kinh hồn bạt vía, long trời lở đất gấp nhiều làn, nếu đem so với Điện Biên Phủ và Tết Mậu Thân, có lẽ chỉ có nhà văn quân đội, đồng thời cũng là một ký giả chiến trường, Đại Uý Nhảy Dù Phan Nhật Nam, viết trong tác phẩm Mùa hè đỏ lửa ‘An Lộc rộng chưa tới 4 cây số vuông nhưng ngày ngày lãnh đạn pháo kích đủ loại, có lúc lên tới 8000 trái một ngày (12-5). Dân và lính thụ động co rút trong hỏa ngục, để trốn pháo từ trên trời ập xuống. Pháo và trời chan hòa trộn lẫn như mưa bay, che lấp không gian hơn hai tháng, liên tiếp từng cơn, từng giờ, từng loạt. Pháo đầy trời như mưa, ào ạt như gió, kín mít như mây. Pháo gây sự chết cho bất cứ ai, không kể dân và lính, cùng muôn vật, muôn loài, trong thành phố An Lộc’.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ sáng sớm 5-4-1972, ba trung đoàn 174,275 + một trung đoàn biệt lập+ một trung đoàn chiến xa và trung đoàn E-6 thuộc công trường 5 VC, vượt biên giới, tấn công quận lỵ Lộc Ninh. QLVNCH tại đó, gồm Chiến Đoàn 9 (Trung Đoàn 9/SD5BB + Biệt Động Quân Biên Phòng + Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh) và các đơn vị DPQ +NQ ngăn chận. Trận chiến vô cùng ác liệt, kéo dài tới 3 giờ chiều cùng ngày, thì đồng loạt Ba công trường 7,9 và Bình Long, cùng lúc từ nhiều phía tấn công vào thị xã An Lộc. Lúc đó, trong thành phố chỉ có Trung Đoàn 8 của Sư Đoàn 5 BB trấn giữ. Công trường 9 đánh mặt tây, công trường Bình Long tấn công hướng đông-bắc, còn công trường 7 thì đóng chốt giữ chặt quốc lộ 13, con đường duy nhất từ Sài Gòn, Bình Dương, Lai Khê tới An Lộc và Lộc Ninh., ngăn chận quân tiếp viện. Tại Lộc Ninh sau ba ngày giao tranh đẵm máu, hai chiến đoàn 9 (SD5BB) và chiến đoàn 52 (SD18BB) được lệnh rút về tử thủ An Lộc, nên bị Công trường 5 VC đuổi theo sau, tấn công vào phía bắc thị xã. Tình thế lúc đó thật nguy ngập, nên Quân Đoàn III đã cấp tốc tăng cường cho Mặt trận An Lộc : Liên Đoàn 3 BDQ (TD31,36,52), Liên Đoàn 81 Biết Cách Dù và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù ((Các TD5,6,8 + TD3Pháo Binh) nhày vào An Lộc. Đồng lúc, Sư Đoàn 21 BB lừng danh đang trấn giữ tại mật khu sình lầy thuộc Vùng IV chiến thuật +Trung Đoàn 15 (SĐ9BB) và 1 Chi đoàn của Thiết Đoàn 2 Kỵ binh, cũng được tăng cường cho chiến trường. Bộ Tư Lệnh SD5BB của Tướng Lê Văn Hưng, ngay ngày đầu cuộc chiến khi CS tấn công Lộc Ninh, cũng đã từ Lai Khê vào An Lộc. Riêng Bộ Tư Lệnh tiền phương của Trung tướng Minh, từ Biên Hòa cũng được di chuyển lên Lai Khê, chỉ huy trực tiếp hai cánh quân trong thành phố và giải tỏa QL13 từ Lai Khê, tới Chơn Thành và An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc chiến đẳm máu, ác liệt từng phút từng giờ, trong suốt hai tháng. An Lộc bi co cụm lại vì tăng, pháo và bộ binh của giặc tấn công. Dân chúng hầu hết bị kẹt lại, không thể di tản được vỉ đường bộ đã bị bít kín. Tất cả mọi người, dân cũng như lính bị thương, đều không được cứu chữa vì không thể nào tải thương được. Trong lúc đó, cọng sản Bắc Việt tấn công và pháo kích, luôn cả bệnh viện, nhà thờ... Ngay cả việc tiếp tế bằng máy bay cũng muôn ngàn khó khăn nguy hiểm, vì màn lưới phòng không của giặc, giăng kín bầu trời Bình Long, chẳng khác thiên la địa võng. Trong tình cảnh tận tuyệt đó, người dân cùng lính, chỉ còn biết nương tựa lẫn nhau, để mà sống trong hỏa ngục qua 68 ngày, hứng chịu 200.000 trái đạn pháo kích đủ loại, làm thương vong hơn 4000 nhân mạng, mà phần lớn là đồng bào vô tội.. Trong cuộc chiến tàn nhẫn, vô lý và vô tình này, có một sự thật không ai chối cãi được, đó là ‘ DÂN NUÔI LÍNH, LÍNH NUÔI DÂN’. Còn tướng Lê Văn Hưng thì diễn tả rất rõ ràng ‘Có lúc thì Lính đi chôn đồng bào, ngược lại đồng bào cũng phải đi chôn lính’. Tình quân dân trong cơn hoạn nạn đó, chỉ có ở những chiến trường, vùng xôi đậu và trong những giây phút thập tử nhất sinh mà thôi. Chỉ lúc đó, người dân mới thực sự thương yêu người lính trận, đã vì nước vì đời, mà hy sinh tính mạng cho mình. Ngay khi Biệt Động Quân cắm được Ngọn Cờ Vàng ba Sọc Đỏ trên đỉnh đồi Đồng Long, cùng lúc SD21BB và Trung Đoàn 9/SĐBB tạm thời giải tỏa được QL13 từ Chơn Thành tới An Lộc. Lập tức có lệnh bằng mọi cách phải đưa cho được 12.000 đồng bào bị kẹt, ra khỏi vùng chiến họa. Ngày tiển chân đồng bào, Tỉnh trưởng Bình Long lúc đó là Đại tá Trần văn Nhựt, đã khóc thật nhiều, vì ông biết chắc con đường gian nan trước mặt của đoàn người lánh nạn, khi phải vượt qua nhiều nút chặn của bộ đội Bắc Việt, tại Tân Khai, Tàu Ô, làm cho hơn 2000 người lại ngã gục, trước khi tới được quận Chơn Thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 4-6-1972, đánh dâu một thời điểm cực kỳ quan trong của Mặt trận này, khi Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, đơn vị bị tan hàng tại Đồi Gió vào tháng trước, đã bắt tay được với Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù trong An Lộc., đánh dấu Quốc lộ đã được giải tỏa. Cũng từ lúc đó, quân trang dụng được tiếp tế, thương binh được tải thương, thường dân được di tản. Ngày 12-6, tướng Lê Văn Hưng tuyên bố ‘An Lộc đã được giải tỏa hoàn toàn‘. Ngày 7-7-1972, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh QĐIII vào thị xã An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có một điều ít ai ngờ được, là trong trận chiến tại An Lộc, Quân Lực VNCH từ Nhảy Dù, Biệt Cách cho tới Bộ Binh, không một đơn vị nào có chiến và pháo binh, vì toàn bộ 30 chiếc M113 +M41 của Thiết Đoàn 1 Kỵ binh và các khẩu đội 105 của Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh, cũng bị phá hủy, chỉ còn một khẩu duy nhất được xữ dụng. Sau đó 6 khẩu 105 của Tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù, cũng bị phá hủy tại Đồi Gió. Tóm lại khắp các mặt trận, lính không có súng chống xe tăng của quân Bắc Việt, nên đã tự động dùng súng M72, XM-202 kể cả các loại súng phóng lựu B40,41 tịchh thu được của VC. Tất cả được người lính nghèo VNCH biến cải thành súng chống chiến xa, nhờ đó quân ta đã bắn cháy rất nhiều xe tăng của giặc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra dưới trận mưa pháo kinh thiên động địa, có một không hai nơi trần thế, gần như đã tàn phá tất cả mọi vật, mọi thứ, mọi mầm sống của đời tại đây. Nói chung từ cái lon nhỏ xíu ngoài đường, cho tới cây cối, cột đèn, nhà cửa đều bị trúng mảnh pháo. Riêng con người thì chết không toàn thây, bất kể là dân hay lính, nhiều người đã bị chết nhiều lần trong một đời người, vì mộ phần vừa mới đắp xong chưa khô đất, thì đạn pháo kích lại rót vào, làm tung toé xương thịt người đã chết. Rồi thì người sống lại nhặt nhạnh từng mảnh xương cốt để chôn thêm lần nữa, vì đâu có ai nở để cho người thân của mình phải chịu cảnh lạnh lẽo không mồ? Nhiều người chôn chưa xong kẻ chết, thì lại chính mình hứng chịu bom đạn và gục ngã với người thân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;**Sư Đoàn 18 Bộ Binh Vào An Lộc :&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tính tới cuối tháng 5-1972, coi như SD18BB dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Minh Đảo, có Liên Đoàn 5 BDQ tăng phái, đã thanh toán xong các mặt trận dữ ở Chà Rầy-Trung Lập (Củ Chí) - Dầu Tiếng (Bình Dương) và Đất Đỏ (Phước Tuy). Do trên, sư đoàn được lệnh vào An Lộc,từ ngày 22-6-1972, để thay thế cho Sư đoàn 5 BB bị thiệt hại nhiều, cần dưỡng quân và bổ sung quân số, sau bao nhiêu ngày tử chiến trong địa ngục trần gian. Cùng lúc các đơn vị tăng phái như SD21BB và Trung Đoàn 15/SĐ9BB cũng được trả về QD4. Như vậy, từ ngày 12-7-1972, toàn bộ SD với 3 Trung Doàn BB cơ hữu là 43 của Trung Tá Lê Xuân Hiếu, 48 của Trung Tá Trần Bá Thành và 52 của Trung Tá Ngô Kỳ Dũng. Ngoài ra còn có Liên Đoàn 5 BDQ của Trung Tá Ngô Minh Hồng tăng phái., nhận lãnh trách nhiệm bao vùng toàn tỉnh Bình Long. Tuy tướng Lê Văn Hưng có tuyên bố là An Lộc đã được giải tỏa và ngay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cũng đặt chân vào chiến trường cón đang ngun ngút khói. Nhưng khắp nơi bom đạn vẫn mịt trời, vì vậy cuộc thay quân giữa hai sư đoàn 5 và 18, vẫn phải thực hiện bằng trực thăng vận. Ngày SD18BB vào An Lộc, con đường 13 huyết lộ, vẫn còn bị chốt kín nhiều nơi, mà nguy hiểm nhất vẫn là đoạn đường từ Chơn Thành tới Tàu Ô. Quanh thị xã, nhiền phần trên hai ngọn đồi chiên lược 169 và Đồi Gió, vẫn nằm trong tay quân Bắc Việt, nên ngày nào cũng bị pháo hằng trăm trái, làm thiệt mạng thêm nhiều người.&lt;br /&gt;Để giải quyết tất cả những gai nhọn nhức nhối trên, Đại Tá Đảo quyết định để Trung Đoàn 52BB và LD5BDQ giữ An Lộc và tung Trung Đoàn 48/SD18BB của Trung Tá Trần Bá Thành, tái chiếm những phần còn lại, do cọng sản đang chiếm giữ, trên các ngọn đồi chiến lược quanh thị xã như Đồi Gió, 169 và E-2. Trung Đoàn 48BB ngay từ lúc còn biệt lập, dưới quyền chỉ huy tài ba, can trường của Trung Tá Trần Bá Thành, đã lập được rất nhiều chiến công hiển hách ở Phước Thành. Trung Tá Thành về sau thăng Đại tá, làm Tỉnh trưởng Bình Tuy và ông đã cùng với các Tiểu Đoàn DPQ tỉnh, tử thủ nhiều ngày tại LaGi, sau khi Phan Thiết mấy ngày 19-4-1975 và SD18BB ở Xuân Lộc được lệnh di tản chiến thuật về Phước Tuy. Ngày 27-7-1972, TD 1/48 và DD48 Trinh sát, đả làm chủ hoàn toàn Đồi 169 và Đồi Gió ngày 9-8-1972.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng Trung Đoàn 43BB của Trung Tá Lê Xuân Hiếu, từ khi vào An Lộc, cũng chịu rất nhiều tổn thất vì đạn pháo kích và những cuộc giao tranh đẳm máu, trong lúc cùng với giặc dành nhau từng đoạn đường sống trên quốc lộ 13. Tại Ấp Xa Cam phía nam An Lộc, Tiểu Đoàn 2/43 bị một lực lượng đông đảo của công trường 7 VC, tân công vây hãm, Tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Nguyễn Văn Thoại bị tử thương, nên TDP là Đại Uý Nguyễn Hửu Chế thay thế và đưa được TD2/43 ra khỏi tử địa. Sau đó, TD2/43 và 3/43,cùng Liên Đoàn 5 BDQ, được giao phó trách nhiệm tái chiếm phi trường Quản Lợi. Đây là một chiến trường cam go nguy hiểm, không khác gì cổ thành Đinh Công Tráng ở Quảng Trị. Phi trường Quản Lợi trước đây là căn cứ đóng quân của SD1 Không Kỵ Hoa Kỳ, nên được xây cất rất kiên cố. Ngày 10-8, TrD43 và LD5BDQ giải tỏa xong hương lộ 303 và tiến sát vào đầu cổng phi trường. Vì căn cứ được xây cất quá quo mô vững chắc, nên VC đã cố thủ trong các căn củ của LLDB và chống trả thật mảnh liệt. Do đó các Trung Đoàn 43,52 và LD5BDQ phải thay nhau tấn công giặc, với tổn thất rất cao, trong nhiều ngày nhưng cũng chỉ chiếm được một phần phi trường. Cuối cùng BTL/SD18BB quyết định dùng Không quân chiến thuật, với bom phá công sự và hỏa tiển Tow. Cuộc hành quân chấm dứt ngày 4-9-1972, tái chiếm lại được Quản Lợi, sau khi đã đánh đổi bằng nhiều sinh mạng, mà thiệt hại nhiều nhất là TD30BDQ và TD2/43/SD18BB. Sau ngày 8-9-1972, Trung Đoàn 43 lại tiếp tục hành quân nhổ các chốt còn lại, trên đoạn đường từ Quản Lợi về An Lộc. Ngày 23-9-1972 là giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, khi Trung Đoàn 48/BB hành quân tảo thanh toàn bộ khu vực rộng lớn của đồn điền Quản Lợi, mở rộng vòng đai an ninh cho thị xã.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiệm vụ hoàn thành, ngày 29-11-1972 các chiến sĩ của miền đông lại tiếp tục hành quân diệt đích khắp vùng chiến thuật, sau khi giao trách nhiệm trấn thủ An Lộc lại cho Liên Đoàn III Biệt Động Quân của Đại Tá Nguyễn Thành Chuân ( LD3, 5 và 6).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;4-Hậu Quả Và Dư Luận Báo Chí về Cuộc Chiến Mùa Hè -1972 :&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo J.Pimlott trong ‘Vietnam the Decisive Battles’, tính đến cuối tháng 9-1972, gần như hầu hết lãnh thổ của VNCH bị CS cưỡng chiếm, đều được tái chiếm và giải tỏa, hơn 100.000 cán binh bộ đội Bắc Việt bị thương vong trên khắp các mặt trận. Vê phía VNCH, binh lính và thường dân chết và bị thương hơn 50.000 người. Nhưng tướng K.Kinnard viết trong ‘The war managers’ thì cho rằng cọng sản bắc Việt, chết khỏang 70.000 người và 700 chiến xa bị phá hủy. Nhưng chuyện VC chết nhiều hay ít, vẫn không phải là điều quan trọng đối với người miền Nam tình nghĩa, suốt cuộc chiến, từ chính phủ, xuống tới người lính và đồng bào, chưa bao giờ coi bộ đội hay cán bộ là kẻ thù, mà chỉ luôn thương hại họ bị đảng kềm kẹp và xua đẩy vào một cuộc chiến bất nhân, chỉ có lợi cho các chóp bu và đảng cọng sản đệ tam quốc tế mà thôi. Theo thú nhận của các cán lớn sau ngày 30-4-1975, thì năm 1972 là một thất bại to lớn của đảng VC, đúng nghĩa trên cả hai phương diện chiến thuật, chiến lược, dành dân, chiếm đất, chia cắt VNCH thành hai và mục đích trên hết là chiếm An Lộc, để làm thủ đô cho cái gọi là Mặt Trận GPMN... Có vậy, Bắc Việt mới tới bàn hội nghị, đối mặt cùng Hoa Kỳ trong thế mạnh của kẻ chiến thắng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;**Sự Thất Bại Của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp :&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo đánh giá hầu hết của các nhà quân sử thế giới, thì cái lỗi lầm to lớn nhưng cũng là căn bản của Võ Nguyên Giáp, khi thống lãnh đại quân Bắc Việt, tấn công VNCH trong trận mùa hè 1972, là đã ngây thơ tin dại vào cái đám trí thức khoa bảng phản chủ của Miền Nam, rằng là đồng bào Miền nam đã đồng thuận với bác-đảng, để lật đổ chính quyền Sài Gòn. Do đó, khi bộ đội miền Bắc tới, dân chúng sẽ hồ hởi đón chào và chạy theo. Ngoài ra Giáp đã quá sai lầm, khi dám đồng hóa người lính VNCH, y chang như bọn lính đánh thuê khố xanh, khố đỏ, Nùng, Mường, Thái, Chàm, Thượng và Khmer thời Pháp thuộc, khi thấy trong QLVNCH vẫn còn lảng vảng nhiều thành phần trên ở các cấp. Điều này cho thấy các chóp bu Bắc Bộ Phủ, đã không điều nghiên kỹ tình hình chính trị tại Miền Nam, mà chỉ dựa vào tin tình báo cáo láo của bọn nằm vùng phản chiến, kể cả tin tức từ đồng minh Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Là dân Miền Nam, dù là ai có ghét thù chế độ nhưng vì lương tâm và mặt thật của lịch sử, đều phải công nhận một điều ‘Qua hai mươi năm của VNCH, tuy đất nước có rất nhiều bất công, một bọn quan quyền ỷ thế lạm quyền mua quan bán chức, tham nhũng buôn lậu, làm đủ mọi điều tồi tệ. QLVNCH cũng vậy, có nhiều lính tráng ỷ công gây thiệt hại cho đồng bào trong các vùng hành quân. Tuy nhiên đây cũng chỉ là thiểu số và sự kiện trên, đều có tại bất cứ quốc gia nào, kể cả Hoa Kỳ và Quân đội Mỹ, mà điển hình nhất là những phanh phui, trong cuộc chiến Iraq hiện nay’. Tóm lại thời đó, có thể khẳng định được một điều là Miền Nam tuy bị chiến tranh triền miên, nhưng chính phủ vẫn luôn luôn nới lỏng mọi thứ nhất là những quyền tự do căn bản như Tín Ngưỡng, Dân Chủ, Ngôn Luận và Bổn phận làm trai, qua chế độ thi hành quân dịch. Vì thế, người miền Nam có quyền lựa chọn, một là thi hành nghĩa vụ, hai trốn lính vào tù, chỉ thế thôi. Còn bộ đội miền Bắc vượt Trường Sơn, thật sự đâu có ai tự nguyện, mà chỉ sợ bị cúp hộ khẩu, tem phiếu và công an bắt bớ làm khổ gia đình. Như vậy đối với người Miền Nam, ngoại trừ một thiểu số ích kỷ nhỏ nhen muốn sống ký sinh vào sự bảo vệ của người khác, còn hầu hết đều ý thức rõ ràng ‘Đi Lính là để bảo vệ cho cá nhân và gia đình mình, sau đó mới đến quốc gia, dân tộc ‘. Hơn nữa kinh nghiệm của đồng bào, qua sự tàn ác dã man của VC tại Huế trong trận Tết Mậu Thân, đã làm cho ai nấy sợ hải. Như vậy còn ai dám ở lại, để đồng khởi với bộ đội miền Bắc? Đánh giá sai ba yếu tố căn bản trên, nên Giáp đã nhận định sai lầm về khả năng tự vệ của VNCH, nhất là trong đầu còn nghĩ thêm ‘Mỹ đã bỏ rơi miền Nam, nên sẽ không còn can thiệp‘. Trong khi đó thì Mỹ cũng đâu có thường gì VNCH nhưng không ngu ngồi im nhìn Hà Nội thắng trận, kéo theo sự thất cử của Nixon. Bởi vậy giờ chót để tự cứu mình, Hoa Kỳ mới cho Hải-Không quân trở lại chiến trường miền Nam và đồng loạt oanh tạc cũng như phong tỏa miền bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra cái chiến lược rải quân mõng, tấn công không đồng loạt, coi đồng bào miền Nam như quân đội, thẳng tay tàn sát, sự yếu kém khi điều hợp binh pháp ‘ thiết giáp-bộ binh’ và trên hết bất nhân, bất nghĩa khi lường gạt cán binh miền Bắc, khi phao tin nhảm rằng Miền Nam đã được giải phóng... Nhưng độc ác nhất là cho bộ đội nhất là các đơn vị đặc công, uống thuốc kích thích hay xiêng chân cán binh vào càn súng cộng đồng và xe thiết giáp, để họ không bỏ chạy khi thua trận. Đó là tất cả lý do, khiến cho tướng Giáp thất bại. Tóm lại như nhận xét của D.Pike, một chuyên gia về VN, viết trong ‘Maxism, Communian and Western Society, A Comparative Encyclopedia Vietnam War‘ thì tướng Giáp đã sai lầm nặng nề khi đánh giá khả năng tác chiến của QLVNCH, sự phản pháo của Mỹ, tác dựng của phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ và sự giúp đỡ của đàn anh Nga-Hoa và các nước anh em XHCN. Bởi vậy khi trận chiến đã tàn, cũng là lúc chấm dứt luôn cuộc đời binh nghiệp của ông. Về số phận của Giáp tại Hà Nội, theo Thành Tín đã viết trong Mặt Thật ‘Lê Duẫn đã nói với Võ Nguyên Giáp: chỉ huy như vậy đó, chọn hướng tiến công không có ngay từ đầu. Còn Giáp trả lời Duẫn : nếu tôi có toàn quyền, thì đâu có thế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;**Dư Luận Báo Chí Ngoại Quốc :&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau này khi mọi bí mật của cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975) được bật mí, thề giới mới hiểu rằng chiến thắng của cọng sản đệ tam tại VN, không phải là huyền thoại hay bất cứ một biến cố lịch sử tất yếu gì, cũng không phải là sự bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Marx, mà là một canh bạc lừa bịp quốc tế bi thảm, của một nhóm người cầm đầu chính quyền Mỹ tại Tòa bạch Ốc ở Hoa Thịnh Đốn. Đồng lõa là sự phụ họa của truyền thông Hoa Kỳ và báo chí Nam VN. Tất cả cùng chung một mục đích, làm sụp đổ tinh thần chiến đấu cùng sự chịu đựng tai họa chiến tranh của quân dân Miền Nam. Sự thật đã được Tổng Tư Lệnh Quân Mỹ và Đồng Minh chiến đấu tại VN, tướng Westmoreland viết ‘Tội nghiệp cho binh sĩ VNCH, họ đem xác trần để làm bia đỡ đạn. Ấy thế mà báo chí Mỹ, Tây Phương và cả Nam VN vẫn không vừa lòng, vẫn bóp méo rằng họ không chịu chiến đấu?’ Còn Henry Winston, chủ tịch đảng cọng sản Mỹ, trong ngày sang Hà Nội ăn mừng chiến thắng đã cưỡng chiếm được Miền Nam, đã tuyên bố ‘chiến thắng của VC cũng là vinh quang của đảng CS Mỹ ‘. Tuy nhiên không phải ai cũng mù quáng bất lương chạy theo danh vọng và đồng tiền, nên cũng còn rất nhiều nhà báo có lương tâm, như thông tín viên lão thành của hảng Reuter là Macolm Browne, trong đại hội lần thứ V của Hiệp Hội Báo chí Quốc Tế, tổ chức tại Luân Đôn vào cuối năm 1968, đã thẳng thắng tố cáo những kẻ bẻ cong ngòi bút, bóp méo sự thật, thông tin một chiều, xuyên tạc với ác ý có chủ trương, của các phóng viên ngoại quốc nhất là Mỹ, khi viết về cuộc chiến tại Nam VN. Ông cho biết, sở dĩ có tình trạng bê bối trên, là vì hầu hết các phóng viên, khi tới VN lấy tin tức (kể cả phóng viên bản địa), rất ít người chịu dấn thân, mà chỉ xin tài liệu từ tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn hay các tin tức một chiều tuyên truyền của VC, rồi dựa vào đó mà mao tôn cương lên báo, mà trăm lần như một đều loan tin rằng chỉ có lính Mỹ mới chiến đấu mà thôi. Kế tiếp là bệnh tranh dành nghề nghiệp, bệnh làm vừa lòng chủ nhân và độc giả.Tất cả gần như đã trở thành thói quen của nền thông tín báo chí Tây phương, kể cả những cơ quan truyền thông nổi tiếng như AP, UPI, AFP và các hãng truyền hình CBS, CNN, NBC, ABC..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào đầu tháng 4-1972, khi cọng sản Bắc Việt vượt tuyến tấn công Quảng Trị, sau đó là KonTum rồi An Lộc, thì đạo quân báo chí của Tây phương, đông đảo trên 300 phóng viên, ào ạt đổ bộ vào Nam VN. Chỉ có một số ít tới Đà Nẳng, Huế... còn hầu hết đều tập trung ở Sài Gòn, ngụ trong hai khách sạn quốc tế Caravelle và Continental. Để diễn tả cái đám phóng viên trên, mà phần lớn thuộc thành phần thân cộng, thiên tả hay phản chiến, Bourgine chủ bút tờ Valeur Actuelles viết là ‘ Những con kên kên, chuyên rình rập ăn xác chết con mồi Nam VN’. Rồi thời cơ đến, đó lúc cuộc chiến trở thành đẳm máu, trước biển người QLVNCH phải tạm bỏ Quảng Trị, còn KonTum và An Lộc thì bị vây hãm nguy ngập... Chính lúc này, thay vì đài BBC Luân Đôn phải lên tiếng tố cáo với công luận thế giới, về sự vi phạm trắng trợn Hiệp định ngưng bắn Genève năm 1954 trong đó Anh, Pháp, Nga, Tàu là đồng chủ tịch đã đặt bút ký. Nhưng đài này đã làm ngược lại, bằng cách loan tin thất thiệt, bóp méo sự thật, toàn là những chuyện trên trời dưới biển, đại để như sau Quảng Trị, Kontum tới An Lộc cũng sắp mất, kéo theo sự sụp đổ của Nam VN. Chính nguồn tin ác ôn bất lương này, làm rụng rời đồng bào, y chang những ngày tháng 4-1975, đài này cũng loan tin thất thiệt, giặc Cộng còn ở tận Đà Nẳng thì nói là tới Nha Trang, làm cho hậu phương rối loạn.&lt;br /&gt;Nhưng rồi qua những ngày bị tấn công lén, bất ngờ QLVNCH lại bắt đầu phản công khắp các mặt trận. Tại An Lộc, dù bị tấn công biển người, mưa pháo nhưng thành phố vẫn đứng vững hết ngày này qua tháng khác, khiến một số lớn kên kên thất vọng vì trật đường rầy, nên bỏ cuộc về nước. Số còn lại, chắc bị lương tâm cắn rứt, phải trở bút để tường thuật sự thật về những trận đanh long trời lở đất đang xảy ra, không có lính Mỹ tham dự, dù rằng các tờ báo cũng như các phóng viên trên, đều không có chủ trương cảm tình với VNCH. Vì vậy nên mọi người mới thấy tờ Paris Match viết ‘Võ Nguyên Giáp đã hóc một cục xương to tướng, sau 68 ngày vây hãm và tấn công An Lộc. Đây là một trận đánh thảm bại nhất trong toàn bộ các trận đánh của mùa hè 1972, khi CSVN tấn công Miền Nam‘. Còn tờ Times thì ghi nhận sự chịu đựng tuyệt vời cũng như kỹ thuật đánh giặc của Binh sĩ Nam VN tại An Lộc. Riêng phóng viên báo Newsweek thì gọi ‘An Lộc là thành phố chết trong sự anh dũng‘. Nhưng có ý nghĩa nhất, vẫn là những lời viết chân thành nồng nàn trên tờ Telegraph ‘cọng sản Bắc Việt tấn công An Lộc bị thất bại vì hữu danh vô thực, thiếu chính nghĩa ‘.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;**Hậu Quả Của Cuộc Chiến :&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại chiến mùa hè 1972 chính thức chấm dứt vào ngày 16-9 khi đám tàn quân của Trung đoàn 48 VC, tháo chạy qua bờ bắc sông Thạch Hản, sau 82 ngày cố thủ trong cổ thành Đinh Công Tráng. Thành được xây dựng từ năm 1823 thời vua Minh Mạng Nhà Nguyễn, nay trở thành đóng gạch vụn vì sự tàn pha của bom đạn cả hai phía. Trong khi đó khắp hai miền đất nước, đồng bào Nam lẫn Bắc đều chịu chung cảnh tang tóc thê thiết của chiến tranh, chưa từng thấy trong dòng Việt sử. Tại miền Nam nước Việt, từ Quảng trị vào tới Cà Mâu, đâu đâu cũng vang tiếng khóc, vì gần như gia đình nào cũng có người thương vong trong trận chiến vừa qua, bất kể là dân hay lính. Hình ảnh đồng bào lặn lội khắp các nẻo đường từ đại lộ kinh hoàng Quảng Trị, Huế, Tân Cảnh, Kontum, Bình Định, Lộc Ninh, An Lộc, Lai Khê... để tìm xác và mộ phần của người thân, đã bị bộ đội miền Bắc trực xạ, pháo kích khi trốn chạy bom đan, thê thiết bi thảm, đâu có khác gì cảnh Mậu Thân tại Huế hay sau đó là những ngày tháng 4-1975 di tản lánh giặc trên Liên tỉnh lộ 7, Huế Đà Nẵng, Quảng Ngãi Chu Lai, Ban Mê Thuộc Nha Trang... Đây là những hình ảnh tàn nhất, chắc chắn sẽ không bao giờ tàn phai trong tâm trí mọi người, qua bao thế hệ. Các thành phố Quảng Trị, Kontum, An Lộc Lộc Ninh đẹp đẽ cổ kính, bổng chốc biến thành đống gạch vụn, làm uổng phí công trình xây dựng bao đời của tiền nhân và xướng máu của đồng bào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng tại miền Bắc, cọng sản đã tạo điều kiên cho Nixon có cớ ra lệnh tái oanh tạc từ tháng 5-1972 tại Hà Nội và Hải Phòng, đồng thời thả mìn phong tỏa các cửa sông, cửa biển chận đường tiếp tế vũ khí đạn dược của Nga-Tàu và các nước Đông Âu tới. Trong lần oanh tạc này, dân chúng miền Bắc đã hứng chịu rất nhiều tai ương về nhân mạng cũng như thiệt hại tài sản. Nhưng VC vẫn cứ tráo trở, khiến cho Nixon lại oanh tạc tiếp Miền Bắc từ 18/12 - 29/12/1972, buộc Hà Nội phải tới bàn hội nghị mới ngưng. Riêng hai đàn anh Nga-Tàu thì im lặng, không thấy lên tiếng bênh vực.&lt;br /&gt;Tới nay, đại chiến mùa hè 1972 đã trôi vào quá khứ gần ba con giáp nhưng hình ảnh đau thương như vẫn còn nguyên nếp trong tâm trí mọi người, nhất là những nạn nhân và lính trận từng tham dự. Cuộc chiến VN mà thực chất chẳng có ý nghĩa gì, ngoài sự làm cho đồng bào cả nước càng lúc càng nghèo thêm trong ách cai trị thực dân của kẻ chiến thắng. Sự hy sinh vô nghĩa của lớp thanh niên thời đại, rốt cục chỉ làm đá lót đường cho một thiểu số của hai miền được giàu sang phú quí, trí thức khoa bảng, ngồi trên đầu mọi người. Còn tuyệt đại đồng bào VN, dù ở đâu muôn đời cũng vẫn đứng bên lề thời gian, để trố mắt thèm thuồng hay ao ước tự do, no ấm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghịch cảnh bất công phi lý ngày nay, càng làm sôi sục thân phận của nhược tiểu VN, cộng thêm sự nhục nhã biển trời của đồng bào, khi cứ trố mắt đứng nhìn mà chẳng làm gì được, để ngăn cản tập đoàn thống tri cọng sản Hà Nội, ngưng ngay hành động bán nước cho Trung Cộng. Chợt thấy thương tiếc lạ lùng những ngày lao đao bầm dập của kiếp lính quèn nhưng lại là một phần đời vô cùng ý nghĩa :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;‘di tản khó, sâu dòi lúc nhúc trong vết thương, người bạn nín rên người chết mấy ngày chưa lấy xác thây sình mặt nát, lạch mương tanh (thơ Tô Thuỳ Yên)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỡi ôi quê hương vẫn đói nghèo tang tóc, bao giờ mới hết hận thù?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xóm Cồn Tháng 8-2005 HỒ ĐINH&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/302179957027946240-5182251361746887223?l=anloc72.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/5182251361746887223'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/5182251361746887223'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2006/03/loc-ia-nguc-tran-gian-cua-quan-dan-mien.html' title='An Lộc: Địa Ngục Trần Gian Của Quân Dân Miền Nam Trong Năm 1972'/><author><name>quanbao18</name><uri>http://www.blogger.com/profile/16305558577772188899</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-302179957027946240.post-5811676618452163764</id><published>2009-08-20T21:02:00.000-07:00</published><updated>2009-08-28T22:03:05.035-07:00</updated><title type='text'>Map of An Loc</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Spiof2GxnnI/AAAAAAAAAus/QCuVstE0smQ/s1600-h/AnLoc_Map.gif"&gt;&lt;img style="WIDTH: 275px; HEIGHT: 320px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375231420320030322" border="0" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Spiof2GxnnI/AAAAAAAAAus/QCuVstE0smQ/s320/AnLoc_Map.gif" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/302179957027946240-5811676618452163764?l=anloc72.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anloc72.blogspot.com/feeds/5811676618452163764/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2009/08/blog-post.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/5811676618452163764'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/5811676618452163764'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2009/08/blog-post.html' title='Map of An Loc'/><author><name>quanbao18</name><uri>http://www.blogger.com/profile/16305558577772188899</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/Spiof2GxnnI/AAAAAAAAAus/QCuVstE0smQ/s72-c/AnLoc_Map.gif' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-302179957027946240.post-2492232061231501401</id><published>2009-08-01T17:32:00.000-07:00</published><updated>2009-08-31T18:40:13.096-07:00</updated><title type='text'>1972 - An Lộc Anh Dũng</title><content type='html'>&lt;span style="color:#cc0000;"&gt;&lt;em&gt;Written by an unknown author, provided by &lt;/em&gt;&lt;em&gt;Kim Nguyen&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#cc0000;"&gt;, this article is published in memory of general Le Van Hung and all South Vietnamese soldiers and civilian defenders of An Loc in 1972.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family:georgia;font-size:130%;color:#3333ff;"&gt;Vài Nét Về An Lộc&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi để lịch sử về cuộc chiến đấu chống CS của quân dân miền Nam có thể trôi vào quên lãng, chúng ta phải ghi lại đầy đủ tội ác của CS, nhất là đối với miền Nam VN. Một trong những tội ác đó là CS Bắc Việt đã dùng ít nhứt 4 sư đoàn (công trường) để cố tàn sát 1 tỉnh lỵ bé nhỏ ở Bình Long miền Nam VN vào năm 1972, nhưng CSBV đã thất bạị Sự thất bại này đã làm giảm uy tín của Võ Nguyên Giáp, "người anh hùng Điện Biên", nổi tiếng trong giới quân sự Tây phương là có tài nướng quân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hậu quả của trận tấn công An Lộc là CSBV đã để lại cho vùng đất bé nhỏ này 1 cảnh điêu tàn, chết chóc thật là khủng khiếp, không thể nào mô tả nỗi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào ngày 7/7/72, Tướng lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc, đã viết: "An Lộc đã đứng vững suốt 3 tháng cam go nhờ vào tinh thần chiến đấu kiên cường của toàn thể quân dân anh hùng nơi thị xã nhỏ bé thân yêu của đất nước."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;An Lộc, tỉnh lỵ của Bình Long, trước đây là 1 thị trấn nhỏ gọi là Hớn Quản thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Từ thời cố TT Ngô Đình Diệm, vì nhu cầu hành chánh, tỉnh Bình Long được thành lập gồm 3 quận Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh. Từ ngày đó, quận Hớn Quản đổi thành quận An Lộc và tỉnh lỵ An Lộc nằm trong quận cùng tên này, trong phạm vi xã Tân Lập Phú.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tỉnh Bình Long nằm sát biên giới Kampuchea với 1 diện tích 2,240 km2, gồm trên 76,000 dân. Riêng quận An Lộc gồm cả thành phố tỉnh lỵ rộng 740 km2 với khoảng 44,000 dân, đa số tập trung vào xã Tân Lập Phú. Toàn tỉnh Bình Long, chung quanh tỉnh ly và quận lỵ là những đồn điền cao su ngút ngàn, vài ngọn đồi thoai thoảị Đồi Gió, Đồi 100, Đồi Đồng Long là những cứ điểm quân sự quan trọng bảo vệ thị trấn An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quốc lộ 13 từ Saigon đi ngược lên cắt đôi tỉnh Bình Long và xuyên ngang tỉnh lỵ An Lộc dẫn dài tới biên giới Kampuchea, tới Snoul. Quốc lộ 13 phải vượt qua Lai Khê, Chơn Thành, Tàu Ô, Tân Khai, Xa Cát, Xa Trạch, Xa Cam rồi mới tới thành phố An Lộc. Quảng đường này đã trở thành chông gai trắc rở trong thời gian diễn tiến cuộc chiến An Lộc. Các chiến sĩ VNCH phải khắc phục con đường này từ Nam lên Bắc và những người dân chạy loạn từ Bắc xuống Nam đã mệnh danh hơn 20 km quốc lộ này là "con đường máu".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điểm thứ nhứt khiến CS Bắc Việt nhắm vào An Lộc là vì tỉnh Bình Long nằm sát biên giới Kampuchea nơi che dấu những căn cứ địa của CS Bắc Việt trên xứ Kampucheạ Thị trấn này về mặt chiến lược còn nắm vai trò chủ yếu phòng thủ cho Bình Dương và sau đó là thủ đô Saigon. Thế nhưng An Lộc chỉ là 1 thành phố nhỏ bé, nơi đặt cơ sở hành chánh điều hành tỉnh Bình Long. Điều quan trọng mà CS Bắc Việt đã gán cho An Lộc là yếu tố tinh thần. Khi chọn làm mục tiêu tấn công CS Bắc Việt hy vọng đạt 1 chiến thắng đồng thời tạo 1 kinh hoàng, đe dọa thủ đô Saigon.&lt;br /&gt;Khi họ quyết tâm tấn công An Lộc, CS Bắc Việt cũng không ngờ đến rằng sẽ gặp phải 1 sức chiến đấu kiên trì anh dũng của quân dân tại đâỵ Sức chiến đấu này không phải chỉ 1 người ca tụng, 1 dân tộc ca tụng mà cả thế giới ngưỡng mộ và cảm phục.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-family:verdana;font-size:180%;color:#ff6666;"&gt;&lt;strong&gt;Chiến Trường An Lộc&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#3333ff;"&gt;&lt;span style="font-family:georgia;font-size:130%;"&gt;Từ Lộc Ninh Đến An Lộc&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;Giữa lúc dân chúng trên khắp lãnh thổ miền Nam tự do chưa hết bàng hoàng bởi cuộn sóng đỏ xâm lăng công khai vượt lằn ranh vĩ tuyến 17 tràn vào vùng cực Bắc của VNCH, trong những ngày đầu thì 1 mũi dùi khác của CSBV bắt đầu thọc mạnh vào tỉnh Bình Long, với quân số 4 sư đoàn, mưu toan "dứt điểm" Bình Long, làm bàn đạp tiến về phía Nam, uy hiếp thủ đô Saigon, chỉ cách nơi đây có hơn 100 km.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rạng sáng ngày 5/4/1972, vào lúc bình minh, Bộ chỉ huy hành quân của CSBV ban ra 1 mệnh lệnh khô khan :"Phải chiếm An Lộc trước ngày 20/4/72, nghĩa là phải đè nặng áp lực tối đa lên vùng hơn 100 km Bắc Saigon, để cầm chân 1 số lớn lực lượng nòng cốt của địch tại đây".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đoàn quân xâm lăng, được chuẩn bị từ lâu, gồm các sư đoàn Công Trường 5, CT 7, CT 9, CT Bình Long cùng Trung đoàn 203 chiến xa từ vùng Lưởi Câu của Kampuchea tràn qua, xuyên qua các rừng cao su dày đặc. Quân CSBV được pháo binh nặng loại bắn xa 130 ly và các loại phòng không cực kỳ tối tân yểm trợ. Tính ra, ít lắm cũng đến 40,000 quân CSBV tham dự mặt trận nàỵ&lt;br /&gt;Trong trận đánh đầu tiên, CSBV dồn toàn lực CT 5 gồm 3 Trung đoàn 174, 275 và Trung đoàn Biệt lập, cùng Trung đoàn Pháo E6, quyết nuốt trọn Lộc Ninh, 1 quận nằm về phía Bắc An Lộc.&lt;br /&gt;Cộng quân gặp sự kháng cự mãnh liệt của chiến đoàn 9 gồm Trung đoàn 9 BB, 30 chiến xa của thiết đoàn 5. Biệt động quân Biên phòng, Địa phương quân và Nghĩa quân Lộc Ninh cũng phản ứng không kém phần ác liệt. Mặc dù quân số CS đông gấp 3, quân trú phòng vẫn cố chống trả. Nhiều trận đánh xáp lá cà diễn ra ngay bên trong quận lỵ. Trước chiến thuật thí quân của CS, quân trú phòng phải hạ nòng đại bác 105 ly trực xạ vào các đợt xung phong biển người (human wave tactic) của địch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đánh vùi nhau suốt ngày không xong, CSBV dội trở ra, để rồi pháo kích liên miên bất tận vào các ổ kháng cự của quân trú phòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa lúc chiến trường Lộc Ninh vẫn diễn ra ác liệt, 1 cánh quân khác của CT 9, đơn vị được coi là thiện chiến nhứt trong số 4 sư đoàn CSBV tham chiến tại Bình Long, bất ngờ tấn công vào tỉnh lỵ An Lộc từ 3 giờ chiều ngày 6/4/72, nhằm chặn đường tiếp viện cho Lộc Ninh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đoạn đường từ An Lộc đi Lộc Ninh bị gián đoạn hoàn toàn, chỉ có thể liên lạc bằng điện thoạị&lt;br /&gt;Tình hình hết sức nguy ngập. Trận thế của CSBV đã bắt đầu hình thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CT 5 quyết lấy Lộc Ninh, rồi chọc thẳng mũi dùi theo quốc lộ 13 tiến xuống phía Nam, công hãm mặt Bắc An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cả 2 sư đoàn CT 7 và CT 9 của CSBV cũng xuất phát từ vùng Lưỡi Câu Kampuchea, đánh ép vào mặt Tây An Lộc. Nhưng Ct 9 đánh thẳng vào An Lộc, còn CT 7 thì giữ chặt quốc lộ 13 ở về phía Nam An Lộc, con đường bộ duy nhất tiếp tế cho thị trấn nàỵ 1 cánh quân khác do CT Bình Long gồm chừng 2 Trung đoàn địa phương tiến từ mạn Đông Bắc xỉa xuống. 4 sư đoàn bộ chiến, chưa kể chiến xa, pháo binh, đại bác phòng không, cùng chĩa mũi vào 1 thị trấn không quá 4 km2.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu đem rải đều 40,000 quân Bắc Việt trên diện tích 4 km2 thì lính CS tràn ngập An Lộc, mỗi người cách nhau 10 m, ngang cũng như dọc, với đủ loại vũ khí tối tân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lực lượng trú phòg chỉ có 1 sư đoàn 5 BB. Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lịnh Quân khu III, tức tốc bốc Liên đoàn 3 Biệt động quân từ Tây Ninh về án ngữ phía Bắc An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó, tại Lộc Ninh, sau 3 ngày bị pháo, không được tiếp viện, quân trú phòng được lệnh di chuyển dần dần về phía Nam, để lùi về An Lộc. Toàn bộ 30 chiến xa của VNCH, 1 số bị phá hủy, 1 số đành bỏ lại. Trước áp lực mỗi ngày một mạnh từ mặt Bắc xuống, chiến đoàn 52 từ vùng cầu Cần Lê, 15 km Bắc An Lộc, cũng phải lui dần về An Lộc. Quân CSBV giăng sẵn 1 tuyến phục kích dài trên 3 km toan nuốt trôi Tiểu đoàn 1/48 của Chiến đoàn 52 vào ngày 7/4/72, nhưng Tiểu đoàn này đã chiến đấu kịch liệt, mở 1 đường máu chạy về An Lộc và chỉ thiệt hại nhẹ. Chính Tiểu đoàn này đã gỡ thể diện cho Trung đoàn 52 BB.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ trong vòng 3 ngày giao tranh, tại Lộc Ninh, đã có đến 2,150 lính CSBV bị hạ sát, quân số của 1 Trung đoàn. Về phía QDVNCH có 600 chiến sĩ hy sinh, cùng với 30 chiến xa và 1 pháo đội 105 ly, bị mất. Kể từ đây, An Lộc bó mình trong vòng đai phòng thủ, không có lấy 1 chiến xa để đối đầu với chiến xa địch có đến cả 1 trung đoàn hàng trăm chiếc. Tại mặt trận An Lộc, điểm đáng kể thứ hai nữa là quân trú phòng không có đại bác. Nguyên 1 tiểu đoàn pháo binh mang số 52 với 24 khẩu 105 ly cũng bị phá hủy gần hết chỉ còn 1 khẩu duy nhất. Trọn 1 pháo đội 6 khẩu của quân Dù thả xuống Đồi Gió, 4 km Đông An Lộc, mấy ngày sau cũng bị tiêu luôn. Tất cả còn lại chỉ là 1 ý chí chiến đấu "hoặc sống trong tự do, hay chết đi cũng để cho con cháu được sống tự do". Những kẻ đang sống trong không khí tự do mà chưa hề bị đe dọa, không sợ bị mất đi, sẽ cho đây là 1 sáo ngữ đầy tính chất tuyên truyền. Nhưng đối với người dân VN, đã từng biết rõ mối đe dọa đó qua 27 năm khói lửa, kể từ năm 1945 đến năm 1972. Họ cũng đã có nhiều kinh nghiệm xương máu về điều gọi là chiến tranh giải phóng, chiến tranh nhân dân, họ biết thế nào là chủ nghĩa CS, nên họ đã chiến đấu, tận lực chiến đấu, dù trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhứt. Cuộc chiến tại VN hiện nay, năm 1972, đã chứng tỏ điều đó. Lời tuyên bố của Tướng Lê Văn Hưng quyết tử thủ An Lộc đã đưa vị Tướng 1 sao này lên hàng danh tướng và làm nức lòng chiến sĩ Bình Long.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:georgia;font-size:130%;color:#3333ff;"&gt;&lt;strong&gt;Trận Chiến Khởi Đầu&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Trận chiến khốc liệt tại An Lộc, 1 tỉnh lỵ rộng không đầy 4 km2, nhưng mức độ tàn khốc của các cuộc giao tranh đã khiến cho nhiều ký giả quốc tế cho là gấp 10 lần Điện Biên Phủ thật sự khởi đầu từ ngày 7/4/72.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả các cánh quân của 2 sư đoàn CSBV đều dồn về An Lộc. Sư đoàn CT 5 từ trên đánh xuống, CT 9 và CT Bình Long ép 2 mặt Tây Đông. Sư đoàn CT 7 vừa chặn mặt Nam, lập chướng ngaị trên quốc lộ 13 vừa tung quân tiến đánh các mục tiêu sát biên giới như Katum, Tống Lê Chân, Thiện Ngôn để cầm chân sư đoàn 25 Bộ binh đang trách nhiệm vòng đai Tây Ninh, chận đường tiến của địch về Saigon theo ngã quốc lộ 1.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quân trú phòng không "tăng" mà cũng không "pháo", phải đối đầu với 1 quân số gấp 3-4 lần, có hàng trăm chiến xa và cả trung đoàn pháo đủ loại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toàn bộ lữ đoàn 1 Nhảy Dù, gồm 3 tiểu đoàn 5, 6 và 8 được gởi đến tăng viện. Toàn bộ sư đoàn 21 Bộ Binh, cùng trung đoàn 15 của sư đoàn 9 BB từ vùng sình lầy miền Tây cũng được bốc lên Lai Khê.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, kể từ đây, quãng đường Chơn Thành đi Lộc Ninh đã bị tắc nghẽn. Các đơn vị tăng viện cố tiến từng bước một để đến gần đơn vị bạn An Lộc, nhưng mỗi bước tiến, không biết bao chiến binh gục ngã, dù là bên này hay bên kiạ Tiến lên không nổi, phải quay trở lại, để rồi tìm cách tiến lên. Gần trọn sư đoàn CT 7 của địch dồn nỗ lực chính vào tuyến phục kích dài 26 km từ Chơn Thành đến An Lộc. Suốt quãng đường này, nơi nào cũng có thể là mục tiêu của pháo binh địch. Chúng rải quân dài dài dọc theo quốc lộ để sẵn sàng chỉ điểm tọa độ cho pháo binh bắn từ xa tớị&lt;br /&gt;Phi trường Lai Khê, vắng từ 3 tháng qua, kể từ khi các đơn vị Hoa Kỳ rút đi, bỗng nhiên tấp nập trở lạị Các chuyến bay nối đuôi nhau chuyển quân hoặc tiếp tế cho chiến trường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt. Dần dần, lực lượng bên trong An Lộc đã có thể khởi lại thế công, dù phải hết sức chật vật. Mấy hôm trước, vòng bán kính bao vây thị trấn chỉ chừng 500 m. Nhưng đến ngày 11/4/72, vòng đai kiểm soát được nới rộng thêm đến hơn 3 km đường bán kính.&lt;br /&gt;Bên ngoài, lữ doàn 1 Dù đã tiến khỏi Chơn Thành được 7 km về hướng Bắc, sau khi giải tỏa áp lực địch từ Lai Khê đến Chơn Thành. Sau 1 trận đụng độ ác liệt với địch quân tại vùng này, lữ đoàn 1 Dù giao lại trách nhiệm cho các đơn vị của sư đoàn 21 BB giữ an ninh trục lộ, những đoạn đường đã được giải tỏa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng trong ngày 11/4, 27 pháo đài bay B52 trút gần 800 tấn bom xuống các vị trí địch. Có lẽ nhờ thế, buổi chiều hôm đó, mức độ pháo kích đã giảm sút rất nhiều.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sư doàn 21 BB được tăng phái trung đoàn 15/9 và 1 tiểu đoàn Dù, có nhiệm vụ khai thông quốc lộ 13, nhưng đây quả là 1 nhiệm vụ vô cùng khó khăn mà mãi đến 8/6 mới hoàn thành nổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#3333ff;"&gt;&lt;strong&gt;Trận Chiến Xa Đầu Tiên&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Ngày 12/4/72, Bộ tư lịnh cao cấp của CSBV lại ra khẩu lịnh cho cán binh của họ:"Cán bộ và binh sĩ phải tấn công trên khắp mặt trận. Chắc chắn quân ta sẽ thắng". Guồng máy tuyên truyền của CSBV được tổ chức ngay tại quận Lộc Ninh, rêu rao là An Lộc đã được giải phóng, nên ngày hôm sau 13/4, chiến xa của chúng mở nắp khơi khơi tiến vào thị xã An Lộc. Khi xe bị bắn cháy, những tên lính CSBV gục chết mà gương mặt vẫn còn hết sức ngỡ ngàng, như còn vương thắc mắc, "Quân ta giải phóng An Lộc rồi kia mà ?".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mở màn cho trận đánh khốc liệt đầu tiên bằng chiến xa này, hồi rạng sáng, cộng quân từ mạn Bắc thành phố tiến chiếm phi trường L.19 và toàn thể kho nhiên liệu, đạn dược của Bình Long gần sân bay bị phát hỏa bốc cháy dữ dộị Hàng ngàn quả đạn đại bác rơi vào An Lộc dọn đường. Đoàn chiến xa lù lù tiến vàọ Nghe tiếng ì ì của chiến xa từ phía Bắc thẳng vào thành phố, lính trung đoàn 8 BB hơi bỡ ngỡ, vì đây là lần đầu tiên họ trực diện với chiến xa T54 và PT76 của CSBV. Đoàn chiến xa tiến theo đường Ngô Quyền, sát cạnh BCH của Đại tá Mạch Văn Trường, Trung đoàn trưởng trung đoàn 8 BB. Mặc dù 1 vài trái pháo của ta làm chậm bước tiến, nhưng đoàn chiến xa địch vẫn bò tớị Chỉ còn cách BCH của Đại tá Trường 20 m, đoàn chiến xa bị khựng lại bởi 1 loạt đạn M72. 3 phát đầu bị hụt. Phát sau trúng đích, chiếc xa dẫn đầu bốc cháy, trườn tới mấy th+ớc rồi ngừng hẳn. Mấy tên lính CS trong xe nhảy ra, cháy nám, lăn lộn trên lề đường. 1 loạt đạn M16 giải thoát. Lên tinh thần, lính của Trung đoàn 8 chĩa mũi M72 vào tất cả đoàn xẹ. Có tới 15 chiến xa địch bị bắn cháy sát cạnh BCH Trung đoàn 8 BB. Đoàn chiến xa địch lùi lại để rồi tìm đường khác tiến vàọ Tiếng súng vang rền trong phân nửa phía Bắc thị xã An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong lúc giao tranh ác liệt tiếp tục, Đại tá Trương Hữu Đức thiết đoàn trưởng thiết đoàn 5 đang ngồi trực thăng quan sát, bị trúng đạn tử thương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Saigon, khoáng đại Thượng nghị viện của Quốc hội VNCH đã ngưng lại các phiên họp thường lệ để dành hết thời gian ca ngợi và tri ân các chiến sĩ đang chiến đấu trên khắp các mặt trận.&lt;br /&gt;Trở lại An Lộc, sau 30 giờ ác chiến đẫm máu bằng đủ mọi hình thức, xáp lá cà, cận chiến bằng lựu đạn, súng dài, súng ngắn thi nhau nổ, trong phân nửa thị xã phía Bắc, cuộc tấn công đợt 1 có chiến xa pháo binh hỗ trợ của CSBV đã bị đẩy luị 2 bên đều bị thiệt hại nặng, và kiệt lực, cần phải nghỉ ngơi và chỉnh đốn lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#3333ff;"&gt;&lt;strong&gt;Cuộc Tấn Công Bằng Chiến Xa Lần Thứ Hai và Lần Thứ Ba&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Ngày 14/4/72 đánh dấu 1 nổ lực mới của Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lịnh Quân khu IỊ An Lộc bị xiết chặt trong vòng vâỵ An Lộc bị bó cứng trong mấy cây số vuông. Quân trú phòng không bung ra ngoài được để hoạt động. Cần phải tìm 1 lối thoát, lập 1 đầu cầu mở cửa ra vào An Lộc, nới rộng tầm hoạt động của quân trú phòng. Mặt Bắc, mặt Tây, mặt Nam đều bị bít kín. Chỉ còn mặt Đông Nam, với những ngọn đồi thoai thoảị Những ai lãnh nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm này ? Lữ đoàn 1 Nhảy Dù dưới quyền Đại tá Lê Quang Lưỡng được Trung tướng Minh chọn, vì quả thật không có đơn vị nào tại mặt trận này làm hơn được Lữ đoàn 1 Nhảy Dù.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc họp mật tại căn cứ Lai Khê giữa Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư lịnh sư đoàn Nhảy Dù, Trung tướng Minh và Đại tá Lưỡng kết thúc mau chóng. Sau 5 vòng bay quan sát, Đại tá Lưỡng chọn ấp Srok Ton Cui làm bãi đáp, 4 km Đông An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiểu đoàn 6 Dù xuống trước dọn bãi đáp. Ngaỳ hôm sau, 15/4/72, 2 tiểu đoàn 5, 8 và BCH lữ đoàn xuống theọ Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù ở lại đoạn hậu, trấn giữ Đồi Gió, để 2 tiểu đoàn bạn chia làm 2 cánh song song tiến vào An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng trong thời gian này, nghĩa là vào sáng 15/4, CSBV lại ồ ạt tấn công đợt 2 vào mạn Bắc thị trấn. 1 số chiến xa địch lọt được vào phòng tuyến phía Bắc, xuống đến nửa phía Nam thành phố. 1 số lớn chiến xa địch lại bị phá hủy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rút kinh nghiệm lần trước, quân trú phòng bắt đầu tranh nhau bắn chiến xa, không phải chỉ bằng M72 mà bằng cả súng phóng hỏa tiễn B40 và B41 tịch thu được của đối phương khi chúng xâm nhập thành phố.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;hính trong các cuộc giao tranh này, binh sĩ CSBV để lộ rõ 1 khuyết điểm trầm trọng trong kỹ thuật tác chiến trong thành phố : thiếu phối hợp giữa bộ binh và chiến xạ Quân trú phòng ẩn nấp trên các cao ốc, trong các hầm trú ẩn, tại bất cứ nơi nào kín đáo mà họ thuộc nằm lòng để chĩa tất cả họng súng đủ loại vào 1 mục tiêu quá lớn, và quá rõ ràng đang di chuyển trên đường phố, trong lúc đôi bên chỉ cách nhau trong vòng 10 m. Quân tấn công, tất nhiên từ xa tới, dường như hoàn toàn lạc lỏng giữa TP xa lạ. Dù họ có được học tập kỹ càng đến mức nào di nữa trên mô hình, dù có thực tập đánh trên xa bàn hàng bao nhiêu lần đi nữa, thì họ cũng không thể nào biết rõ địa thế bằng chính người dân, binh sĩ đang sinh sống tại An Lộc. Đó là chưa kể 1 lỗi lầm trầm trọng trong chính sách tuyên truyền của CSBV là đã khiến cho binh sĩ họ mang 1 tin tưởng quá lạc quan rằng An Lộc đã được giải phóng. Thật là tàn nhẫn quá sức, vì điều này chẳng khác nào họ đã dẫn dụ, lừa bịp binh sĩ của chính họ vào chỗ chết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hơn thế nữa, nếu lúc ban đầu, đoàn chiến xa hùng hậu của CSBV có tác dụng làm phấn khởi tinh thần binh sĩ của họ, đồng thời làm suy giảm nhuệ khí quân trú phòng, thì trong thời gian sau, ảnh hưởng đó lại trái ngược.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc tấn công bằng xe tăng đầu tiên vào An Lộc, vài đoàn viên xe tăng CSBV được cấp chỉ huy của chúng cho biết trước là An Lộc đã được giải phóng. Cho nên lính CSBV lừ lừ cho "tăng" tiến vào thành phố, mở rộng cả nắp pháo tháp ngắm cảnh "thị trấn giải phóng" và chờ đợi những tiếng hoan hô của "dân được giải phóng". Trong các đợt tấn công sau đó, các chiến sĩ VNCH sau khi hạ được "tăng" địch đều khám phá rằng có nhiều đoàn viên tăng CSBV bị cấp chỉ huy của chúng xích chặt vào "tăng" luôn. Lúc đầu, chiến sĩ ta cứ tưởng là binh sĩ CSBV can đảm cố thủ trong xe tăng chăng ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 9/4/72 tại Quảng trị, tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến chỉ dùng vũ khí cá nhân M72 hạ 1 loạt hàng chục chiến xa địch chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ. Chiến thắng đầu tay này được loan truyền mạnh mẽ trên hệ thống truyền thanh quốc giạ Cũng trên làn sóng này, kỹ thuật bắn chiến xa cũng được chính các Tướng lãnh giải thích tường tận. Binh sĩ VNCH, hầu như mỗi người đều có 1 máy thu thanh bỏ túi dể nghe âm nhạc, và dường như tất cả đều chú ý nghe ngóng tin tức chiến sự tại các mặt trận khác. Họ biết được hiệu quả của vũ khí chống chiến xa, và các cấp chỉ huy mặt trận cũng không bỏ lỡ cơ hội huấn luyện thêm ngay tại chỗ, như trường hợp của Tướng Hưng, ngay sau trận tấn công bằng chiến xa đầu tiên của CSBV vào An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể từ khi hạ được chiến xa đầu tiên tại An Lộc, binh sĩ trú phòng lên tinh thần và vững chãi chiến đấu với địch. Cùng lúc đó, tinh thần của cán binh CSBV phần lớn dựa vào chiến xạ Chiến xa bị cháy, bị bắn nằm ngổn ngang trên đường phố, họ không còn tinh thần chiến đấu nữạ Bộ binh "tùng thiết" (đi theo thiết giáp) thấy chiến xa bị bắn cháy là mất tinh thần. Đây là 1 trong những yếu tố khiến cho An Lộc khỏi mất !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự thiệt hại về nhân mạng và vật chất của quân VNCH bên trong An Lộc, có thể nói mà không sợ sai lầm, đến 90% do CSBV pháo kích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng trong ngày 15/4/72, Tướng Nguyễn Văn Minh dời Bộ tư lịnh Quân đoàn III lên Lai Khê để trực tiếp chỉ huy mặt trận Bình Long. 1 lực lượng đặc nhiệm gồm 20,000 binh sĩ với Nhảy Dù, Bộ Binh, Thiết Kỵ được thành lập để giải tỏa quốc lộ 13.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc đổ quân của lữ đoàn 1 Nhảy Dù gây thiệt hại cho cả 1 tiểu đoàn trấn giữ Đồi Gió. Tiểu đoàn 6 Dù và 1 pháo đội 6 khẩu đại bác 105 ly bị thiệt hại nặng (sau 18 năm thành lập, tiểu đoàn 6 Dù bị tan nát vào lúc 17 giờ ngày 21/4/1972). Tuy nhiên, sau này chính tiểu đoàn này, được bổ sung ngay tại chỗ, đã trả được mối hận đó, bằng cách đánh cú chót tuyệt kỹ, bắt tay với lực lượng bên trong An Lộc vào ngày 8/6/72, kết thúc giai đoạn 2 tháng vây hãm của chiếc rọ tử thần "An Lộc".&lt;br /&gt;Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù, đang hoạt động bên trong phòng tuyến địch, cũng được bốc hết về An Lộc ngày 16/4/72, để tiêu diệt các tổ đặc công của địch lọt được vào thành phố sau 2 cuộc tấn công vào thị xã. Lính Biệt Cách Dù được huấn luyện để đơn độc chiến đấu trong lòng địch,, thuộc nằm lòng cách tác chiến, thói quen và vũ khí của CSBV để có thể giả dạng quân "giải phóng", nên kỹ thuật tác chiến cá nhân rất caọ Chính Biệt Cách Dù đã tỉa các đặc công CSBV cố bám vào dân, và nhờ đó, tránh 1 số thiệt hại cho số dân còn kẹt lại bên trong thành phố.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi quân Dù bắt tay được với quân trấn thủ, liền nới rộng vòng đai về pía Nam. Không quân VNCH và Hoa Kỳ hoạt động dữ dộị Pháo đài B52 dội bom chỉ cách An Lộc 1 km về phía Bắc, tiêu diệt trọn 1 trung đoàn CSBV.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Áp lực địch đã giảm bớt trong ngày 17/4/72, phần bị đánh bật ra ngoàị Quân trú phòng cố nới rộng vòng đai phòng thủ, đồng thời di chuyển được chừng 2,000 dân chúng ra khỏi An Lộc để chạy về Chơn Thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc dù kho đạn dã chiến tại Lai Khê bị pháo kích nổ dữ dội gây bối rối cho sư đoàn 5, và "hành lang máu" trên quốc lộ 13 vẫn còn bế tắc, nhưng đến đây, Tướng Nguyễn Văn Minh nhìn thấy được 1 tia hy vọng "Có thể giữ vững được An Lộc".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc họp báo tại Lai Khê sáng 17/4/72, Tướng Minh tuyên bố :"Giai đoạn khó khăn nhứt đã qua. Chúng tôi hết sức thận trọng vì sợ kẹt dân. Chúng tôi không lạc quan qua trớn, và đang ghìm súng chờ đợi những đợt tấn công mới của đối phương".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tướng Minh khỏi phải chờ đợi lâu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay ngày hôm sau, 18/4/72, đợt tấn công chiến xa thứ ba đã đổ ập vào An Lộc, 1 chiến trường nặng ký gấp nhiều lần Điện Biên Phủ 18 năm trước đó, nhưng theo 1 nhà báo ngoại quốc là, "Gió đã đổi chiều cho Giáp". Mà quả thật, gió đã đổi chiều tại đâỵ Quân trú phòng không vương 1 mặc cảm chủ bạị Họ cùng 1 lòng chiến đấu, hy sinh cuộc sống của họ cho lẽ sống của hơn 17 triệu dân Miền Nam, đang phập phòng hướng về họ. Tướng Lê Văn Hưng, Tư lịnh sư đoàn 5 BB, chỉ huy toàn bộ lực lượng trú phòng, cam kết: "Ngày nào tôi còn, An Lộc còn". Vị tướng này, tay thì cầm M16, mặc áo thun, quần đùi, lựu đạn quanh mình, hoạt động 24/24. 2 tai của ông liên tục nghe báo cáo và điều động các binh sĩ của ông khắp nơị Thật vậy, An Lộc rất may mắn có vị tướng này và chính ông là 1 trong những yếu tố quan trọng giữ vững An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thêm nhiều chiến xa CSBV bị hạ gần Bộ chỉ huy của Tướng Hưng. B52 tiếp tục dội bom chung quanh. Không quân VNCH dồn dập yểm trợ và tiếp tế. Nhưng trước 1 hàng rào phòng không dầy đặc đủ loại, từ đại bác 37 ly, B40, B41, hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay SA7 lố nhố trong rừng cao su bao vây An Lộc, dù anh em phi công có cố gắng đến mức tối đa, chịu nhiều tổn thất, cũng chỉ tiếp tế "nhỏ giọt" cho chiến trường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phần lớn kiện hàng thả xuống bay tạt ra ngoài hàng rào phòng thủ. Nguồn tiếp tế bị cản trở, quốc lộ 13 vẫn tắc nghẽn. Quân trú phòng bị bao vây trong hơn 2 tháng rưỡi trường như thế. Không khí ngột ngạt và căng thẳng đến độ 1 Trung tá Trưởng phòng 2 của sư đoàn 5 BB phải thốt lên :"Đây là chiến trường cô đơn, và mãi đến ngày thứ 60 của cuộc chiến, các cánh quân tiếp viện cũng chỉ le lói ở cuối đường số 13". Nếu đây là 1 đoàn quân không chiến đấu cho 1 chính nghĩa, không có 1 niềm tin vững chãi và hình như, nếu không có 1 sự nhiệm màu nào đó hỗ trợ, chắc chắn họ đã thảm bại từ lâu rồi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#3333ff;"&gt;&lt;strong&gt;Đợt Tấn Công Lần Thứ Tư&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Hạn định lúc ban đầu của Bộ chỉ huy cao cấp CSBV ban ra là ngày 20/4/72 phải dứt cho được An Lộc. Nhưng An Lộc vẫn đứng vững. Tin tình báo cho hay, đúng ngày này, toàn bộ BCH của CT 5 CSBV bị thay thế, để chuẩn bị đợt tấn công mới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nửa đêm về sáng ngày 21/4/72, Cộng quân pháo kích trên 2000 trái đạn đủ loại vào những địa điểm trú phòng của quân VNCH, rồi tấn công 4 mặt vào thị xã. 4 mũi dùi chĩa vào 4 vùng cùng ở mặt Đông :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- 2 km Đông Nam An Lộc - 3 Km Đông Nam - 1 km Đông Nam - 5 km Đông Nam là những nơi có quân đội VNCH trấn đóng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại mỗi nơi, Cộng quân có 5 hoặc 6 chiến xa, với 1 tiểu đoàn BB tùng thiết (đi theo thiết giáp).&lt;br /&gt;Đặc công CS hoạt động mạnh trở lại, ăn nhịp với các hoạt động bên ngoài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, không hiểu vì do xếp đặt trước, hay thiếu sự phối hợp, các mũi dùi này không khai diễn đồng loạt, mà lại cách quãng nhaụ Mũi thứ nhứt khởi diễn hồi 4 giờ sáng, và nỗ lực sau cùng khởi diễn hồi 13 giờ chiềụ Nhờ thế. quân trú phòng có thể yểm trợ cho nhau 1 phần hỏa lực súng cối còn lại, và nhất là hỏa lực của không quân. Có đến 17 phi vụ B52 để yểm trợ cho An Lộc trong ngày hôm ấỵ Trong số đó có 3 "pass" yểm trợ cho Tiểu đoàn 6 Dù rút khỏi Đồi Gió, 4 km Đông An Lộc. Nhưng rủi thay, Tiểu đoàn này gặp phải hỏa lực quá hùng hậu của địch gờm sẵn để tấn công mặt Đông Nam An Lộc đúng vào ngày nàỵ Tiểu đoàn 6 Dù đã "tan hàng" -- nói theo kiểu nhà binh.&lt;br /&gt;Những đơn vị còn lại đều đẩy lui được các đợt tấn công của đối phương. Bắn hạ thêm nhiều chiến xạ&lt;br /&gt;Trong lòng nửa phía Bắc thành phố An Lộc, cuộc giao tranh giữa Biệt Cách Dù và đặc công CS tiếp tục với mức độ ác liệt, tạo thành những mảng da beo trên phần đất nàỵ Hàng ngàn xác chết của cả 2 bên, của thường dân, của người lớn, của trẻ em la liệt trong thành phố.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đêm 22 rạng 23/4/72, CSBV tung thêm 2 cánh quân, 1 đánh vào vùng trách nhiệm của Tiểu đoàn 8 Dù ở cửa Nam An Lộc, và 1 chặn đánh Trung đoàn 15 của Sư đoàn 9 BB trên quốc lộ 13.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cánh quân đánh Tiểu đoàn 8 Dù có 2 chiến xa T54 và 2 chiếc BTR yểm trợ. Lúc này, quân trú phòng đã có loại súng bắn chiến xa mới mang tên XM202 từ M72 biến cải, có thể bắn liên tiếp 4 phát, với sức nóng 3600 độ Fahrenheit mỗi trái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cả 4 chiếc đều bị cháy rụi, quân tùng thiết CSBV mất tinh thần và bị đánh bật trở rạ Không những thế, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Dù còn gọi phi cơ C130 có gắn đại bác 105 ly bắn theo sự hướng dẫn của ra đa hạ luôn 1 đoàn xe 5 chiếc khác đang hướng về Trung đoàn 15 BB.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau đợt tấn công thứ tư bị thất bại, Cộng quân chỉ còn nước pháo kích vào thành phố để trả hận. Tình hình An Lộc có phần dễ thở hơn, mặc dù vẫn dưới điệu nhạc ì ầm của pháo binh CS, hàng ngàn trái mỗi ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó, đoạn đường quốc lộ 13 Chơn Thành - An Lộc vẫn tiếp tục nhuộm thêm máụ Bên VNCH cố tiến lên. Quân CSBV cố sức giữ lạị Các cấp chỉ huy CS đã không ngần ngại xiềng chân nhiều binh sĩ của họ trong các hố chiến đấu cá nhân nằm rải rác dọc quốc lộ 13 để làm những con chốt cản đường, và chỉ điểm cho pháo binh của chúng từ xa bắn tới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày nào cũng có 1 số trực thăng bị rớt nhưng không có chiếc nào hạ cánh nổi xuống An Lộc. Các cuộc chuyển quân cấp đại đội của Nhảy Dù đều bị đánh bật. Về sau, phải di chuyển ở cấp tiểu đoàn. Mãi đến ngày 8/5/72, lực lượng giải tỏa quốc lộ 13 mới tiến thêm được 6 km nữa để chiếm làng Tàu Ô, nằm giữa Chơn Thành và An Lộc, sau 3 ngày giao tranh đẫm máu, gây thiệt hại nặng cho cả đôi bên. Quân CSBV đã xây những hầm chiến đấu sâu đến 6 m dưới lòng đất khiến phi cơ không thể nào phá nổị Quân giải tỏa phải đánh cận chiến, đánh bằng lựu đạn, và chiếm cứ từng hầm hố, từng địa đạo, từng căn nhà, từng thước đất một.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai trung đoàn của sư đoàn 21 BB được thả ở vùng Bắc Tàu Ô đánh thốc xuống, trong lúc 1 cánh quân khác đánh thốc từ phía Nam đánh lên. Trước khi chiếm làng này, lực lượng giải tỏa đã phải đối đầu với 4 tiểu đoàn CSBV, 2 tiểu đoàn pháo và đặc công tăng cường, nằm đầy mạn Bắc làng Tàu Ô. Quân giải tỏa cố lập 1 phòng tuyến tại đây, tạo 1 đầu cầu trên đường tiến vào An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#3333ff;"&gt;&lt;strong&gt;"Pháo Tập" Dọn Đường Cho Trận Đánh Quyết Liệt&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Đến giờ phút này, ngày 10/5/72, cả 3 mặt trận An Lộc, Kontum và Trị Thiên đều đang ở trong tình thế gây cấn. Bên kia Thái Bình Dương, TT Richard Nixon công bố những biện pháp mạnh đối với CSBV. Tại Saigon, TT Thiệu tuyên bố "Tổ quốc lâm nguy". Lịnh Thiết Quân Luật được ban hành trên toàn quốc từ 0 giờ ngày 11/5/72. Chính vào giờ này, BCH cao cấp của CSBV tại mặt trận Bình Long muốn "dứt điểm" An Lộc, bắt sống Tướng Lê Văn Hưng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể từ trưa hôm trước, tất cả các khẩu pháo của CSBV đã bắn trái khói lai rai cầm chừng để điều chỉnh tọa độ những địa điểm mà chúng định sẵn sẽ tấn công.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đúng 12 giờ đêm, giờ khởi đầu của tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh thổ VNCH, Cộng quân bắt đầu cuộc "pháo tập" khốc liệt và tàn bạo nhất trong lịch sử chiến tranh Đông Dương vào An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến 4 giờ sáng, CSBV bắt đầu "chuyển pháo". Kinh nghiệm và khả năng tác chiến cao đã giúp cho binh sĩ trú phòng biết ngay địch muốn làm gì khi chuyển pháo đi nơi khác. Sau khi chịu đợt "tiền pháo", tất cả đều vọt ra khỏi hầm ghìm súng chờ đợi "hậu xung".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quả nhiên, ngay sau đó, chiến xa ì ì kéo tớị Từ 4 giờ sáng, Cộng quân xỉa 3 mũi dùi từ hướng chính Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc với quân số mỗi cánh cấp trung đoàn có chiến xa dẫn đầu đánh ập xuống nửa thị xã phía trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở ngã Đông Bắc, Cộng quân đột nhập vào khu Chợ Mới, sát phòng tuyến VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trận giao tranh tại đây càng lúc càng đẫm máu, kéo dài mãi đến 8 giờ 30 sáng. Mặt Bắc thành phố là mặt bị uy hiếp nặng nhất ngay từ đầu cuộc chiến. Các cánh quân CSBV ẩn phục trong đồn điền cao su Quản Lợi và từ quốc lộ 13 kéo xuống như vũ bão.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặt chính Bắc và Tây Bắc, Cộng quân huy động 1 lực lượng hùng hậu có chiến xa dẫn đầu để tiến công. Chiến xa CS dẫn đầu đã chọc thủng phòng tuyến Tây Bắc của lực lượng trú phòng. Theo sau là 2 trung đoàn bộ chiến CSBV. Vì sợ hỏa tiễn chống chiến xa, nên đoàn xe tăng của CS phóng quá nhanh, quân bộ chiến theo không kịp. Chiến xa tách rời bộ binh, liền lập tức bị quân trú phòng dùng hỏa tiễn M72, XM202 và cả B40 (tịch thu của CS) hạ luôn 1 hơi 8 chiếc. Những chiếc còn lại hoảng sợ bỏ chạỵ Tuy nhiên, quân bộ chiến của chúng tràn đến kịp dùng chiến thuật biển người (human wave tactic) áp đảo quân trú phòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dường như tiên đoán được cuộc tấn công qui mô quyết định này, Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lịnh Quân khu 3 đã xin từ trước hỏa lực yểm trợ của B52 dội vào khu vực phía Bắc. Mãi đến 10 tiếng đồng hồ sau, nghĩa là đúng lúc 2 trung doàn CSBV từ mạn Tây Bắc tràn vào thành phố, liền bị hàng loạt bom B52 thả trúng, cách bìa thành phố chỉ 1 km. Riêng trong ngày này, Bộ tư lịnh Hoa Kỳ tại VN đã dành cho chiến trường An Lộc 20 phi vụ B52 với 2000 tấn bom đủ loạị Theo sự ước tính tại chỗ, có ít nhất 1 trung đoàn địch bị tiêu diệt. Cuộc tấn công lập tức bị chặn lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một cánh quân thứ tư ước độ 1 trung đoàn CSBV, có 10 chiến xa dẫn đầu đánh thốc từ dưới lên trên, theo ngã Tây Nam vào lúc 6 giờ 30 sáng. Lực lượng trú phòng giữ mặt này chống trả mãnh liệt nên mũi dùi chính không thể tiến thêm được. Tuy nhiên, ở cả 2 mặt Bắc lẫn Nam, 1 số đơn vị CSBV đã xâm nhập được vào thành phố và chia thành nhiều tổ chiến đấu nhỏ, gây hỗn loạn trong thành phố.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Suốt ngày 12/5/72, quân trú phòng cố sức đánh cận chiến để trục các toán CSBV ra ngoàị Mãi cho đến tối, chiến trường mới tạm lắng dịu tiếng súng giao tranh, nhưng pháo binh CS lại nã liên hồi bất tận vào bên trong An Lộc. Sau 4 giờ để pháo binh tác xạ, đồng thời xếp đặt lại đội ngũ, CSBV lại lợi dụng thời tiết xấu với những cơn mưa như trút tấn công vào, từ 3 mặt Đông Bắc, Tây và Nam. Như vậy, Cộng quân đã liên tục tấn công vào 6 mặt chung quanh An Lộc trong 3 ngày liên tiếp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc dù phải liên tiếp chiến đấu trong 3 ngày ròng rã, trong sự thiếu thốn cả lương thực lẫn đạn dược, nhưng với sự yểm trợ của Không quân VNCH lẫn Hoa Kỳ với B52 lẫn các phi cơ khu trục, trực thăng võ trang, phản lực...quân trú phòng vẫn cầm cự được, và lần hồi bẻ gãy các mũi dùi tấn công, đánh bật quân CSBV ra ngoài rìa thành phố.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong 3 ngày giao tranh, có đến 600 binh sĩ của đôi bên chết ngổn ngang trên đường phố, chưa kể số tổn thất của CSBV vì B52. Mùi tử khí bắt đầu xông lên nồng nặc vì không ai có thời giơ kịp chôn cất. Có chăng là các binh sĩ đồn trú để dành thì giờ nghỉ ngơi chôn cất các bạn đồng đội, đánh dấu để sau này thân nhân có thể tìm ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáng kể nhất là các chiến sĩ Biệt Cách Dù. Họ đã quen sống trong lòng địch, đơn độc nhiều ngày, nên An Lộc đối với họ cũng khá dễ chịụ Bởi thế, họ vẫn bình thản tạo dựng được 1 nghĩa địa khá tươm tất để chôn cất các bạn đồng đội không may ngả gục trên chiến trường. Nghĩa địa Biệt Cách Dù nằm sát ngôi chợ Bình Long và được ghi dấu 2 câu thơ mộc mạc trên 1 tấm bia mộ chung sau đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quân trú phòng tuy phải bị 1 phen xấc bấc xang bang, nhưng sau trận này, sau khi chịu đựng nổi cuộc tấn công quyết định mà CSBV dồn toàn lực vào quyết dứt điểm An Lộc, họ đã thoát được những giờ phút nguy hiểm nhất. Tuy nhiên, mối đe dọa vẫn còn, vẫn thường trực chờ ở bên mình. Bên nào cũng ngất ngự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gần 40 ngày đã trôi quạ Lực lượng tấn công dù có chuẩn bị kỹ càng đến đâu, cũng khó lòng tích trữ 1 số lương thực và đạn dược cho 1 trận chiến quá lâu dài với 1 cường độ khốc liệt như vậỵ Bom đạn hàng ngày tàn phá các vị trí tiếp liệu, đánh phá các đường tiếp tế. Vũ khí, đạn dược mỗi ngày một hao mòn. Trên 50 chiến xa bị bắn cháỵ Binh sĩ lớp chết, lớp bị thương phải lo di tản... Bao nhiêu sự khó khăn dồn dập trong lúc hậu phương lại quá xạ Mỗi ngày qua đi là gánh nặng càng thêm chồng chất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hàng này, quân CSBV phải chia nhau đi lượm Dù tiếp tế do phi cơ thả lạc ra ngoàị Quân trú phòng VNCH cũng chẳng hơn gì. Hàng trăm thương binh không được di tản từ 40 ngày quạ Họ nằm dài chung quanh các phi trường để mỏi mòn chờ đợi trực thăng. Nhưng sân bay nào cũng là mục tiêu chọn sẵn của pháo binh địch. Vừa thấy bóng trực thăng thấp thoáng ở đâu là pháo binh CS câu ngay đến đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy vậy, thỉnh thoảng 1 vài phi công trẻ tuổi gan lỳ cũng đáp xuống được, di chuyển được 1 số binh sĩ. Biết bao thảm cảnh xảy ra bên này cũng như bên kia, ai còn tinh thần chiến đấu, bên đó sẽ thắng. Bao nhiêu ngày không được tắm rửa ? Nước không có đủ để uống lấy gì mà tắm giặt ? Lò mò ra suối tìm nước là 1 việc mạo hiểm vì không biết "nó" pháo lúc nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cơm sấy chỉ đủ ăn cầm hơị Dù tiếp tế 10 cái, rơi ra ngoài hết 8. Suốt mấy tháng trời ăn ngủ dưới hầm, giấc ngủ chập chờn, ám ảnh. Xác chết ngổn ngang, thương binh nằm oằn oại trước mắt. Nếu không phải là sống trong 1 tập thể chặt chẽ, nếu không tin vào 1 cái gì đó tốt đẹp hơn, chắc chắn khó có ai chịu đựng nổi mấy tháng trời liên tục như thế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Càng nóng lòng tiến đến An Lộc, đoàn quân giải tỏa càng bị thiệt hại nặng. Tướng Tư lịnh mặt trận Nguyễn Văn Minh đành thay đổi chiến thuật : Đặt trọng tâm vào việc càn quét những đơn vị chung quanh An Lộc và dọc theo quốc lộ 13 trước đã, để dọn đường cho Bộ Binh tiến vào An Lộc.&lt;br /&gt;Toàn bộ sư đoàn 21 BB và các lực lượng tăng phái gồm trung đoàn 9, Biệt Đông Quân biên phòng, Thiết Giáp, Nhảy Dù quyết thu ngắn khoảng cách. Pháo đài bay B52, phản lực cơ, khu trục oanh tạc cơ dữ dội dọn đường. Quân giải tỏa ào ạt tiến lên, vượt suối Tàu Ô, qua Tân Khai, Xa Cát, Xa Trạch. Đến trưa 16/5/72, đoàn quân này chỉ còn cách An Lộc có 3 km thì bị khựng lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các đơn vị của VNCH thi đua nhau tiến vào An Lộc. Tuy nhiên, CSBV ẩn nấp trong đồn điền cao su Xa Cam, cửa ngỏ tử thần đi vào An Lộc, với 1 địa thế vô cùng hiểm trở, sẵn sàng chặn đứng mọi cuộc tiến quân xuyên qua yết hầu này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 19/5/72 là ngày mà CSBV thường năm vẫn gây đỗ máu khắp nơi tại miền Nam để mừng sinh nhật HCM. Theo tin tức của 1 tù binh cao cấp CSBV bị bắt tại An Lộc thì Bộ Tham mưu Cao cấp CSBV sẽ cử hành lễ này trước đó 3 ngày, để rồi cố gắng đánh 1 trận nữa vào An Lộc, may ra có thể khích động tinh thần cán binh lần chót quyết chiếm thị trấn này vào ngày 19/5/72, gọi là để mừng sinh nhật "Bác Hồ" dù ông ta đã chết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng kế hoạch này đã bị bại lộ. 1 toán Biệt Kích được tung vào vùng tình nghi, 16 km Tây Nam Bình Long. Nhận đúng tọa độ, toán Biệt Kích gọi về BCH hành quân. Chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, 6 phi vụ B52 liên tiếp dội bom xuống vùng nàỵ Nguồn tin này cho hay, 80% nhân mạng chung quanh Bộ Tham mưu này của CSBV đã bị chôn vùi trong hố bom. Nhờ cuộc không tập này, quân CSBV đã không thể mở nổi trận đánh vào ngày 19/5/72 như chúng đã dự định.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, đến ngày 23/5/72, từ rạng sớm cho đến xé chiều, Cộng quân lại mở liên tiếp 4 đợt tấn công bằng chiến xa vào các đơn vị VNCH tại khu vực Nam và Tây Nam An Lộc, cách thị trấn này từ 1-5 km, nhưng đều bị đẩy luị Kết thúc trận đánh này, có thêm 13 chiến xa CSBV bị hạ gồm 5 chiếc T54 và 8 PT76.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lực lượng giải tỏa vẫn chập chờn tại đồn điền Xa Cam. Quốc lộ 13 vẫn bị quấy rối bằng pháo, và các ổ phục kích. 2 trung đoàn BB VNCH vẫn tiếp tục lục soát, tảo thanh chung quanh vòng đai phía Nam An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua máy truyền tinh, các lực lượng tử thủ An Lộc biết được quân tiếp viện còn cách họ không xạ Cũng qua máy điện thoại siêu tầng số, Tướng Lê Văn Hưng cho các phóng viên biết rằng, tinh thần binh sĩ của ông vẫn cao, vẫn sẵn sàng đánh nữa, và đã có thể ra khỏi hầm để tắm suối, sau 50 ngày "tắm khô" vì mức độ pháo kích của CSBV đã giảm. Họ cũng đã quá quen với nhịp độ 1,000 trái pháo mỗi ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không quân chiến thuật yểm trợ quân VNCH tại vùng Nam An Lộc, trong lúc không quân chiến lược (B52) liên tiếp không tập vùng Bắc thị trấn, phá vỡ các kho vũ khí, đạn dược vừa được CSBV chuyển tới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một tài liệu tối mật bắt được ngoài mặt trận cho thấy, Trung ương cục R (Trung ương cục Miền Nam) của CS khẩn báo về Trung ương Đảng bộ CS ngoài Bắc về sự thiệt hại nặng nề của các đơn vị CS tham chiến tại An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản báo cáo này nêu rõ trường hợp điển hình là Trung đoàn 209, sau 1 thời gian trấn giữ Bàu Bàng và Tàu Ô đã tan nát. Mỗi đại đội còn không đầy 30 lính, mỗi tiểu đoàn chỉ còn độ 90 so với quân số lúc đầu là 350 ngườị Cục R cũng than phiền khả năng chiến đấu của sư đoàn Bình Long quá yếu kém, vì phân nửa sư đoàn này là lính Khmer Đỏ, tỏ ra hoảng hốt mỗi khi nghe tiếng phi cơ dội bom.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo sự tiết lộ của các giới chức quân sự Quân khu 3 của VNCH, Trung ương Đảng CSBV đã chỉ thị các đơn vị CS tham chiến tại Bình Long phải cố gắng kéo dài trận chiến thêm 3 tháng nữa để phù hợp với tình hình và đem lại lợi thế cho họ trong 1 giải pháp chính trị trong tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong tình thế này, quân lực VNCH tại mặt trận An Lộc dần dần chuyển thủ ra công, chuyển từ thế hạ phong sang thượng phong, để rồi giải tỏa được vòng vây lửa của 4 sư đoàn CSBV.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tướng Nguyễn Văn Minh, khi tiếp xúc với báo chí tại Lai Khê ngày 31/5/72 đã mô tả trận chiến này là trận đánh khó khăn nhất và dài nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Ông thừa nhận, CSBV đã đạt được 1 lợi thế ngay từ đầu với quân số đông gấp 4 lần, và quân VNCH đã phải chấp nhận khá nhiều tổn thất. Tuy hiên, sau 54 ngày giao tranh, Cộng quân đã thiệt hại ít nhất là 30,000 quân trong tổng số 4 sư đoàn của chúng. Mưu đồ của CSBV mong tiến đánh thủ đô Saigon đã hoàn toàn bị chặn đứng tại An Lộc. Điều ước muốn nhất của ông là sớm thoát cảnh tù túng, không khác 1 địa ngục trần gian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng vào ngày cuối tháng 5/72, TT Nguyễn Văn Thiệu đã bay thị sát 2 mặt trận Kontum và Thừa Thiên -- 2 mặt trận đều đang đắm chìm trong lửa đạn, đồng thời phát động chiến dịch 18 ngày thi đua giết giặc mừng ngày quân lực 19/6. Chiến dịch đã thu đạt được kết quả mỹ mãn : giải tỏa Kontum, khắc phục quốc lộ 13, mở đường tiếp viện cho An Lộc, 1 tuần sau đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#3333ff;"&gt;&lt;strong&gt;Khắc Phục Quốc Lộ 13 Và Bắt Tay Với An Lộc&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Trong những ngày đầu tháng 6/72, đoàn quân có nhiệm vụ giải tỏa quốc lộ 13 tích cực hoạt động. Hai trung đoàn 33/21 và 15/9 cùng tiểu đoàn Dù cùng song song tiến lên, khởi từ Xa Trạch. Tiểu đoàn 6 Dù bị tan nát từ ngày 21/4/72 tại vùng Đồi Gió, đã được tái bổ sung. Chỉ trong vòng 1 thang trời, với nỗ lực huấn luyện ngay tại chỗ của các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn, đơn vị này đã trở lại chiến trường quyết trả mối hận Đồi Gió. Với sự hỗ trợ của 2 trung đoàn bạn, tiểu doàn 6 Dù lướt đi như gió, càn quét các đơn vị CSBV cản đường như 1 con hổ dữ, không hổ danh là những thiên thần mũ đỏ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiều tối ngày 8/6/72, đại dội 62 của tiểu đoàn 6 Dù bắt tay được với 1 đại đội của tiểu đoàn 8 Dù trấn giữ vùng Nam An Lộc từ ngày 17/4/72. Hai tiểu đoàn này cùng được đổ xuống ấp Srok Ton Cui ngày 15/4, nhưng lạc nhau kể từ đó. Đến nay lại gặp nhau trên cửa ngõ An Lộc. Làm sao kể xiết nỗi vui mừng của cả 2 bên. 2 đoàn quân đến ôm chầm lấy nhau, siết chặt tay nhau, mừng mừng, tủi tủị Chuẩn tướng Hồ Trung Hậu, Tư lịnh sư đoàn 21 BB, chỉ huy lực lượng giải tỏa quốc lộ 13, thở phào nhẹ nhõm. Nhiệm vụ của ông vừa được hoàn tất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tướng Hồ Trung Hậu cho hay, tiểu đoàn 6 Dù đã làm ngạc nhiên tất cả các đơn vị bạn trong những trận đánh cuối cùng trước khi bắt tay quân phòng thủ An Lộc. Trung đoàn 15/9 và 33/21, những đơn vị kềm chặt Cộng quân để tiểu đoàn Dù tiến lên, cũng cử những đơn vị đại diện đến bắt tay với lực lượng bên trong.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sở dĩ cuộc bắt tay này được coi là những diễn biến quan trọng, bởi nếu thực hiện được, vòng đai bảo vệ thị trấn An Lộc mới được mở rộng, trực thăng mới có thể đáp an toàn để tải thương, đồng thời tiếp viện và tiếp tế cho chiến trường. Hàng chục ngàn binh sĩ được đổ vào An Lộc với đầy đủ lương thực, để thay thế bớt cho những binh sĩ đã kiệt sức, hoặc quá mệt mỏị Tuy nhiên, phần lớn lực lượng của sư đoàn 21 BB vẫn ở ngoài thị trấn, vì Tướng Hậu không muốn quân của ông biến thành mục tiêu bất động cho pháo binh địch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vấn đề được đặt ra sau cuộc giao tiếp đối với cánh quân giải tỏa quốc lộ 13 là dồn mọi nỗ lực để tiêu diệt địch chung quanh An Lộc, nhất là những ổ phòng không và đại pháo của CSBV.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 9/6/72, lần đầu tiên kể từ 2 tháng qua, 1 đoàn trực thăng 23 chiếc hạ cánh an toàn xuống An Lộc, vừa tiếp tế, vừa đổ quân, để rồi bốc thương binh rạ Quân trú phòng phấn khởi, tiến lên chiếm lại những vị trí của Cộng quân cố thủ tại phía Bắc An Lộc. Những tổ kháng cự bên trong thị trấn cũng lần lượt bị tiêu diệt. Cuộc di tản thương binh và thường dân vẫn được tiếp diễn đều đặn.&lt;br /&gt;Ngày Chủ nhật 11/6/72, TT Thiệu đã gởi cho Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH, yêu cầu chuyển lời khen ngợi nồng nhiệt của ông đến Trung tướng Tư lịnh Quân khu III, Chuẩn tướng Tư lịnh sư doàn 5 BB, Chuẩn tướng Tư lịnh sư đoàn 21 BB, tất cả các đơn vị trưởng cùng toàn thể các chiến sĩ thuộc mọi quân binh chủng đã anh dũng chiến đấu bảo vệ thị xã An Lộc và khai thông quốc lộ 13.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong lúc đó thì liên đoàn Biệt Cách Dù và liên đoàn 3 Biệt Động Quân cùng song song tiến lên mặt Bắc An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiểu đoàn 36 Biệt Động Quân đã cắm ngọn cờ vàng 3 sọc đỏ đầu tiên tại trại gia binh pháo binh ngày 12/6/72. Kế đó, tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân đánh lên mặt Tây Bắc, sát sân bay và cạnh đồi Đồng Long. Tiểu đoàn này đã chế ngự 1 cao điểm sát đồi Đồng Long để yểm trợ cho Biệt Cách Dù tấn công lấy luôn đồi Đồng Long, cắm cờ trên ngọn đồi nàỵ Ngọ đồi này cao 128 m, và là nơi CSBV đặt pháo binh bắn vào An Lộc từ mấy tháng qua.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau cái bắt tay giữa 2 tiểu đoàn Dù ngày 8/6 lực lượng trú phòng được tiê^'p tế thật đầy đủ dò dẫm tiến lên mạn Bắc quốc lộ 13 và nới rộng thêm vòng đai phòng thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 12/6/72 khi cờ VN phất phới bay trên đỉnh đồi Đồng Long, Tướng Lê Văn Hưng tuyên bố với phái viên VTVN: "Thành phố An Lộc được hoàn toàn giải toả."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family:verdana;font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Bên Lề Cuộc Chiến&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:verdana;font-size:180%;"&gt;&lt;div align="left"&gt;&lt;span style="font-family:georgia;font-size:130%;color:#3333ff;"&gt;&lt;strong&gt;Mưa Pháo&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;Để duy trì áp lực trên thành phố An Lộc, hoặc ngay cả trước khi mở cuộc "hậu xung", CSBV đã dành cho thành phố bé nhỏ này những trận pháo kinh thiên động địa mà các giới quan sát chiến trường lúc bấy giờ nhận xét là họ chưa từng thấy cuộc pháo kích nào như thế cả trong lịch sử chiến cuộc thế giớị Nghĩa là không còn danh từ nào tượng hình hơn danh từ "Mưa Pháo" mà người dân tại An Lộc cũng như chiến sĩ ở đây đã gọi như thế. 1 sĩ quan cao cấp, Đại tá Mạch Văn Trường, đã ví những trận pháo kích của CSBV như 1 chiêu thức võ hiệp "Mãn thiên hoa vũ" (mưa hoa bay đầy trời).&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="font-family:arial;color:#3333ff;"&gt;...Nơi tôi đứng, chỉ 15 phút trước Đại đội 62 Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù đã xung phong cú chót bắt tay với Đại đội 81 Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù. Cái bắt tay vinh quang của quân sử. Mùi người chết đã tanh trong gió. Chiến trường tại chổ nảy cũng quá nặng đô nhưng An Lộc ở trong kia, cách xa 1700 thước lại gây cho tôi cơn đau đớn giật ngược, người cồn cào nóng rực tưởng như đứng trước một tình thương vừa mới chết...&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:Arial;color:#3333ff;"&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#33ff33;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;span style="font-family:georgia;color:#ff0000;"&gt;Phan Nhật Nam&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:georgia;color:#ff0000;"&gt;An Lộc, tháng 6 năm 1972&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Diện tích thị trấn An Lộc chỉ chừng vài km2, thế mà trong 2 tháng trời đã lãnh đủ mọi thứ đạn của CSBV, có lúc đến gần 8,000 đủ mọi thứ đạn trong 1 ngày, như ngày 11/5/72. Tính chung, hơn 2 tháng trời bị pháo liên tục thì trung bình thành phố An Lộc đã chịu đựng hơn 200,000 quả đạn đủ loại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ít người được dịp chứng kiến tận mắt thành phố An Lộc hoang tàn sau những cơn mưa pháo bất tận, nhưng ai ai cũng có thể hình dung những đổ nát của thị trấn nhỏ bé này với 1 chút tưởng tượng rằng cứ chừng 20 m2 thì bị tàn phá bởi 1 quả đạn pháo kích của CSBV.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với "mật độ" này, không có 1 vật gì ở thị trấn An Lộc không ghi nhận dấu vết tàn phá của đạn pháo kích. Từ cột điện, cây cối cho đến chiếc lon sữa bò vứt ngoài đường phố cũng ít nhất bị trúng miểng pháo, đừng nói gì đến nhà cửa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;An Lộc còn có những chuyện bi thảm mà thế giới văn minh không ai có thể tin là sự thật. Dưới trận mưa pháo kinh hoàng của đoàn quân xâm lược, thật ít người được chết chỉ 1 lần. Vắng tiếng pháo, người sống vội vã lo cho người chết, đào tạm cái hố, gom vội thi hài để người chết được 1 nơi yên giấc và cũng để tránh cảnh xác người sình thối trước mắt người sống. Thế nhưng giấc ngủ của kẻ chết cũng không yên dưới tay giặc Cộng. Mộ mới "đắp" được vài phút, đạn pháo kích của Cộng quân lại rơi vàọ Xác người chết vốn không còn nguyên vẹn lại bị giết 1 lần nữa bởi sự vô lý của mộng xâm lăng hầu chụp lên đầu dân miền Nam chủ thuyết CS.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người dân còn kẹt lại An Lộc, người lính quyết tâm tử thủ bảo vệ thành phố này, đã cố gắng chịu đựng đến tột cùng của sự cố gắng trước cái kinh hoàng của "mưa pháo" để thành phố không thất thủ. Những tiếng nổ khủng khiếp liên hồi hàng chục ngày rồi cũng trở thành những âm thanh dịu vợi vì quá quen thuộc. Cái kinh hoàng bây giờ không còn phải ở 2 tai mà ở đôi mắt khi nhìn thấy những người đi thu lượm chấp nối đầu, rồi tay, rồi chân hay thân mình của thân nhân hay bạn hữu cho đầy đủ trước khi vùi sâu dưới lòng đất lạnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 15/4/72, hơn 10,000 dân An Lộc chạy vô khu nhà thờ và nhà thương An Lộc. hy vọng Cộng quân không tấn công 2 địa điểm này, bởi nếu còn 1 chút lòng người không 1 cấp chỉ huy quân sự nào có thể ra lịnh bắn vào nhà thương và nhà thờ. Chính vì 2 chữ "thương" và "thờ" với sự tượng hình đặc thù của nó, tự đã nói lên tất cả ý nghĩa của sự việc dân chúng tìm 2 nơi này lánh nạn. Tuy nhiên, CSBV vẫn tập trung hỏa lực để pháo kích vào 2 nơi này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gần 2 tháng sau, khi kể lại vụ nhà thờ ngày 15/4/72 cho chúng tôi, 1 người lính tử thủ tại An Lộc vẫn còn kinh hoàng và lòng kinh tởm cho dã tâm của CSBV. Anh nói: "Cả chục ngàn người đang ở khu vực nhà thờ, họ cùng các vị lãnh đạo tinh thần chỉ còn biết cầu xin đấng duy linh tối thượng, thương xót cho 1 đám dân lạc loài qua khỏi cảnh đao binh. Không ai có thể hình dung được cảnh hỗn loạn, thảm khốc khi hơn 10,000 người đạp lên nhau chạy thoát khỏi khu nhà thờ. Số thương vong không biết sao kể siết."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một thành phố nhỏ như An Lộc dễ dàng trở thành mục tiêu tốt cho bất cứ pháo thủ nào chỉnh súng để pháo vào đó, bởi vậy An Lộc đã chẳng còn gì sau hơn 60 ngày bị pháo kích. Điều may mắn còn lại cho những người tử thủ là đạn rơi trúng hầm thì mới chết chứ cách hầm vài thước thì ăn thua gì. Loại đầu đạn phá hầm ghê sợ nhất là loại nổ chậm "Delay"; đầu đạn này không phát nổ khi chạm đất mà còn xuyên thủng khoảng 10 m rồi mới nổ. Với loại đạn này sự tàn phá vô cùng khủng khiếp. Rất may là CSBV không có nhiều loại đạn này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể cả căn hầm của Tướng Hưng, ở An Lộc hầu như không có 1 công sự nào chịu nổi 1 phát 103 ly hay hỏa tiển 122, có điều Thượng đế "còn ngó lại" nên phần trên căn nhà của Tướng Hưng chỉ bị mấy trái cối 82. Đạn cối 82 không xuyên phá, khi nổ văng nhiều mảnh nhưng chỉ có thể làm sập mái nhà mà thôị 1 vài trái hỏa tiển 122, 107 và cả đạn "Delay" đã rơi chung quanh Bộ chỉ huy của Tướng Hưng, rất may mắnkhông có trái nào trúng hầm và chỉ làm hư hại phần ngoài của khu vực mà thôị Đã nói tới pháo kích tức nhiên phải nghĩ tới những tàn phá và thảm cảnh, những điều này mới chính là biểu trưng vĩ đại nhất cho sự chịu đựng và tinh thần kiên quyết của đoàn người tử thủ cho dù đó là quân nhân hay những thường dân hoàn toàn không có vũ trang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với khoảng 200,000 trái đạn trong hơn 2 tháng, Cộng quân đã làm cho An Lộc sụp đổ toàn diện. 4,000 binh sĩ và thường dân tử thương bên trong thị trấn. Nhưng tại sao thành phố nhỏ xíu này vẫn đứng vững và trở thành biểu tượng cho tinh thần chiến đấu của người dân miền Nam không thích chế độ CS ? Đó không phải là 1 biểu tượng cho 1 dân tộc không muốn sống dưới chế độ CS hay sao ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một sĩ quan tử thủ Bình Long đã ghi lại trong nhật ký:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Sự sụp đổ của một thành phố không có nghĩa là mang theo sự sụp đổ tinh thần chiến đấu của những người đang còn muốn tiếp tục bảo vệ nó và bảo vệ chính bản thân mình."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#ff0000;"&gt;&lt;strong&gt;Thư Cho Người Tình Hư Vô&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color:#3333ff;"&gt;(Trích trong &lt;em&gt;"Mùa Hè Đỏ Lửa",&lt;/em&gt; bút ký chiến trường của Phan Nhật Nam"&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#006600;"&gt;"Anh Hưu thương, &lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#006600;"&gt;"Thế nào, 2 chủ nhật trôi qua có nhơ lắm không ? Có thể nói từ khi anh và em cùng nhau bắt tay xây dựng vợ chồng thì 2 chủ nhật này là 2 chủ nhật khó khăn và nặng nề vượt qua lắm anh hè. Em biết lắm rồi, trong những giờ phút đó anh muốn thét lên lên thật to để làm sao em nghe những lời nói của anh, rồi cùng anh nói chuyện, rồi em cũng biết lắm những bước chân đi trong những giờ phút đó, nó như 1 con người không tri giác mà những bước đi đó không hề biết đến, không hề nhớ đến, đầu óc sẽ triền miên suy nghĩ, những cái gì gọi là kỷ niệm ở đời sẽ hiện ra và bắt đầu như diễn kịch trước mắt. Thật đúng tâm trạng của anh lúc đó em sẽ đoán được, vì sao em lại biết tài như thế ? Vì em đã nằm giữa trái tim anh, dòng máu của anh đã cùng chảy theo nhịp thở của em, cho nên dù sao, dù ở phương trời nào em đều đoán được. &lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#006600;"&gt;"Thế nào rồi đó, chân sưng to không, bằng cái "cột đình" chưa ? Vai đã lột những lớp da bên ngoài gọi là "không đáng kể" để đổi lấy lớp thịt "hồng hà" chưa ? Có đau lắm không anh ? Có hỏi họ để tìm lám, dầu ngoại khoa mà bóp chưn, nhức lắm anh hè. Anh Hưu ơi, em biết đi đường vất vả lắm rồi đó, ăn uống khô khan như vậy có mua gì cải thiện đến không ? Trên đường đi có xảy ra đau ốm gì không ? Nghĩ đến đó em tê buốt cả người càng thêm nhớ nhung suy nghĩ, có sinh ra cái mụt nào để làm thêm đau đớn bản thân không. Vì mùa này là mùa mụt của "đồng chí" đấy phải không Thủ trưởng. 2 chữ Thủ trưởng nói cho vui vậy thôi, chứ không phải em mơ ước như vậy đâu nhé. Thật ra tâm trạng của em chỉ mơ ước rằng sao cho 3 năm nghĩa vụ xong anh được an toàn cùng về với em, em muốn nhắm măt làm sao thời gian sẽ trôi nhanh đi và nhanh đi nữa để anh và em được về sống trong 1 ngôi nhà nhỏ hẹp để cùng nhau vượt qua khó khăn, cùng nhau hưởng những hạnh phúc đẹp đẽ. Những hạnh phúc đẹp đẽ, những cái đó em nuôi 1 mơ ước, 1 mộng đẹp, chứa đựng nó trong 1 khối óc, trái tim đầy tình chung thủy của tình nghĩa vợ chồng đã nhen nhúm từ lúc đầụ Anh ơi, xa anh đi, em nhớ lắm, em thương anh lắm, anh nói, anh cười, anh trìu mến thương, anh em làm sao quên được. Có ai hiểu thấu tâm trạng của em trong những lúc nhìn vật của anh, từ nét chữ của anh viết cho em, rồi đến cái nhìn nữạ.. Chao ơi, em muốn bấu lấy mà nhìn, nhìn mãi, nhìn vui nào cho chán được. Anh Hựu ạ, nói mãi, cũng không hết nhớ nhung của em lúc này đối với anh, thôi em nói chuyện khác anh nhé..."&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên đây là 2 trang đầu tiên của chị Nguyễn Thị Hàng, giáo viên ở Nghệ An viết gửi anh Lê Văn Hưu địa chỉ là 27100 3TB04 Trung đoàn 203 Thiết giáp, không biết rõ anh ở đơn vị nàọ Thư viết 4 trang được ghi lại 2 trang đầu không sửa 1 nét, không thêm 1 dấụ Lê Văn Hưu đã chết ngay trận đầu tiên sau 6 tháng vượt Trường Sơn vào Nam. Cái chết của Hưu không phải lỗi của chúng tôi vì chúng tôi phải tự vệ để sống còn, cũng không phải của anh Hưụ Hưu cũng muốn ở lại bên chị Hàng để "cười rúc rích với nhau", để được ăn ngô, "vườn ngô trước nhà đã được mùa".. Tội ác này là của chúng nó, lũ đồ tể tay không dính máu, tâm hồn chúng cứng ngắt bởi tin vào chủ thuyết thật tàn độc. Đó là lỗi của lũ ngạ quỷ trầm luân mang danh người và chiêu bà i cách mạng giải phóng. Chính chúng nó, thứ thiên tài chết ngập đầy oan khiên, đem chết chóc cho thế nhân...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#3333ff;"&gt;Tiểu Đoàn 6 Dù - Đồi Gió Đổi Tên&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;2100g của ngày 19 được đánh dấu bởi quyết định của "Lê Lợi" : Tiểu đoàn 6 không còn nhiệm vụ giữ pháo nữa, chỉ còn nhiệm vụ giữ cao địa. Tiểu đoàn trưởng toàn quyền quyết định. Pháo còn nữa đâu để giữ, chưa đầy 48 giờ đã mất 6 khẩu pháp với ngàn quả đạn, bây giờ ở đây làm gì ? Dọt, Đỉnh dẫn 62 xuống đồi hướng về phía ấp Srok, nơi đang có 61 lập vị trí, để lại đồi 2 đại đội 63 và 64 cho Tiểu đoàn phó Phạm Kim Bằng trấn giữ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vinh còn ào xuống như núi lở, Cộng quân bung ra khép lạị Vinh tiếp tục lấn...chân đồi Gió và ấp Srok lại kẹt thêm cái suối Rộ Vinh cựa quậy khó khăn dưới đám lau -- sậy ruộng sũng nước.&lt;br /&gt;- Nó bâu tôi như đỉa, dứt không nổi anh Năm. Vinh hét với Đỉnh trong máy... Tối quá chỉ có sờ ngực áo mà đánh lưỡi lê thôị..quên sờ nón sắt mà nhận bạn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng dù Cộng quân cố chận bằng mấy lớp hàng rào người, 11 giờ đêm Vinh cũng rờ được cái ấp... nơi đại đội 61 đang trông chờ từ lúc trời chập tốị 400 m từ chân đồi đến người lính gác của đại đội 61, thành phần của tiểu đoàn 6 đi mất 3 giờ, 3 giờ thêm 1 số thương binh vì lưỡi lê và mảnh lựu đạn của 400 m cận chiến!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bây giờ là 0 giờ của ngày 19 bước qua 20, Cộng quân không phải chỉ 1 thành phần, 1 cánh quân, nhưng là 1 lũ người, 1 lớp sóng người chen vai thích cánh, lố nhố đầy chân Đồi Gió, chân đồi phía Tây lẫn chân đồi phía Đông... Cộng quân tràn ngập đường 245 như trẩy hội, Cộng quân bao quanh ấp Srok Ton Cui như đám người đói vây quanh vị trí phát chẩn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không phải là 1 cuộc điều quân để chuẩn bị tác chiến, nhưng là 1 chợ người, lộn xộn ồn ào, la hét tìm đơn vị, chuyển lệnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Ngày hôm nay máy bay "ngụy" nhiều quá !&lt;br /&gt;- Sao mày không bắn !&lt;br /&gt;- Tao chỉ có AK.&lt;br /&gt;- AK thì AK bắn cho "ngụy" sợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở trong này, Đỉnh thì thầm liên lạc với các đại đội trưởng 61, 62 và 60: các toa dặn lính đừng bắn, tụi nó đi đâu cho tụi nó đi, chỉ bắn khi nào nó tấn công mình thôị "- Chúng tôi nhận hiểụ" Cả 3 đại đội trưởng đều thở dài, lấy gì bắn nữa !! Nhưng dù vô trật tự tới đâu, Cộng quân cũng tập họp lại được hàng ngũ. 3 giờ sáng tiếng kèn thúc quân vang lên lồng lộng... Xong rồi tụi nó dứt mình.&lt;br /&gt;South Vietnamese paratroopers.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng kèn thúc quân xoáy trong dêm, vang dọc theo đường 245. Bỏ mẹ, nó bố quân cả 3 km đường dàị Đỉnh run tay khi nghe hiệu lịnh từ đầu đến cuối hàng quân, đồng thời từ phía Bắc đầu đường 245 có tiếng động cơ máy nổ, ánh sáng đèn pha quét ngang dọc bóng đêm, tăng T54. Cộng quân "dứt điểm" Tiểu đoàn 6 Dù không nương taỵ.. 3 giờ đúng, Đồi Gió bị tấn công trước, Tiểu đoàn phó Phạm Kim Bằng, mặt sắt đen sì, con người quá thổ, chậm rãi điềm tĩnh và hùng tráng như 1 hiệp sĩ thời cổ đứng ra khỏi hầm điều khiển 2 đại đội 63, 64 phản công. 63 của Hoàng và 64 của Tuấn, 2 đại đội đã thử lửa với CSBV từ ngày 17, 2 đại đội trưởng "tới" quá mức, dũng cảm như những thiên thần tung hoành trên đầu lũ quỷ say máụ Tất cả đều ở tuyến chiến đấu, không còn khinh binh Tổ trưởng, Trung đội trưởng, Tiểu đoàn phó... Chỉ còn 1 hàng ngang theo giao thông hào, điểm phân biệt người chỉ huy là tay nói máy chuyển lệnh, tay ném lựu đạn. 2 đại đội chỉ trừ những người chết hoặc bị thương mê man, thương binh chỉ tạm băng sơ qua vết hương, đứng hoặc dựa lưng vào thành giao thông hào để chiến đấụ 4 giờ trong bóng tối ngã màu tím của ngày sắp đến. 4 chiếc T54 chia từ 2 hướng Đông và Đông Bắc bắt đầu lên đồi, lính tùng thiết CSBV chạy lố nhố theo sau để tính bề diệt gọn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trăng thượng tuần gần sáng dọi ánh sáng trắng lạnh xuống sường đồi vằng vặc, khối sắt đen lóng lánh tiến dần vào cùng động cơ vang ầm ỉ, ngọn đèn vẫn giữ nguyên độ sáng ở vị thế "pha", luồng sáng dọi thẳng lên đồi hỗn xược thách thức... 2 chiếc T54 đầu tiên bò lần lần từng thước đồi dựng đứng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"- Để tao thanh toán nó." Tuấn đứng thẳng khỏi giao thông hào, kéo chiếc ống M72 cơ hữu (trên nguyên tắc chỉ khinh binh mới có M72). Rút hết các chốt an toàn... Tách ! Sợi giây an toàn cũng đã bị đứt, Tuấn đưa chiếc hỏa tiển lên vai nheo mắt...100 thước, còn xa, 80 thước, hơi xa, 50 thước, đủ! Tuấn bị lóa bởi 2 ngọn đèn dọi thẳng mặt... Ầm ! Quả hỏa tiển đập thẳng vaò giữa 2 điểm sáng, hơi chếch cao 1 chút, trúng ngay pháo tháp...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiếc thứ hai tăng tốc độ hú tiếng lớn nhấc 1 cái lên tuyến phòng thủ, hạ sĩ Nhu, tiểu đội trưởng can trường không kém đại dội trưởng, nhảy vội lên pháo tháp, quả lựu đạn phát nổ sau khi Nhu vừa kịp nhảy xuống. 2 chiếc T54 của phía Đông thì do chính Hoàng và 1 binh sĩ khác hạ... Cộng quân dạt lui xuống chân đồi để đại pháo rưới thêm 1 lớp, lớp thứ 6 kể từ lúc khởi đầu trận đánh. Ngày tới với ánh sáng cùng cơn mưa pháo thứ 7, đỉnh đồi bây giờ tan hoang, điêu tàn và bốc khói, khói của đạn địch và khói của đạn ta cháy dở..."Hột lạc" dài 300 m ngang 70 m, hứng khoảng 2000 quả đạn trong 1 đêm với vị trí dã chiến, ngày chiếu ánh nắng rọi rõ cảnh vật tan nát...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiểu đoàn phó Bằng bị "tung" 1 mắt. Tuấn hứng 1 quả 75 ly, quả đạn nổ ngay trên thân thể người sĩ quan trẻ mới 23 tuổi -- số tuổi quá nhỏ đem so với chiến trường nặng độ. Đồi Gió kể từ đó mang tên mới: Đồi "Quốc Tuấn," danh hiệu truyền tin của Tuấn, Cao Quốc Tuấn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với 1 con mắt đẫm máu, Bằng nghiến răng, nhướng mắt còn lại giữ vững đồi cho đến lượt tấn công thứ 16. 12 giờ trưa ngày 20, Bằng kiệt lực xuôi tay bỏ rơi chiếc combiné, gọi Hoàng đến: "Thay moa đem 2 dại đội vê^` 169 (Tây Nam Đồi Quốc Tuấn với 1 cái "yên ngựa" chập chùng trên 2 km đường rừng rậm). Nhớ đem hết thương binh, kẻ chết phải chôn lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#3333ff;"&gt;&lt;strong&gt;AN LỘC - Chiến Trường Thách Đố Của Phóng Viên&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Sau đây, dưới hình thức ký sự của 1 phái viên VTVN đã đặt chân hơn 1 lần vào An Lộc trong những ngày còn lửa đạn, người đọc sẽ được dẫn dắt vào thành phố đổ nát An Lộc, sống vài giây phút với những người dân, người lính đã cố thủ An Lộc.&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công việc của 1 phóng viên là trung thực ghi nhận mọi sự kiện xảy ra trong đời sống thời sự. Trên 1 khía cạnh nào đó người phóng viên như 1 chứng nhân dự phần vào những diễn biến luôn luôn làm cho thế giới biến đổi không ngừng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với tư cách của 1 phái viên Vô Tuyến Việt Nam, tôi tới An Lộc ngày 13/6/72 khi thị trấn này bước vào ngay tử thủ thứ 68. Nhiệm vụ của tôi, tương tự như các phái viên VTVN ở các mặt trận khác, là tường trình qua hệ thống liên lạc siêu tần số, những sự thật đã và đang diễn ra tại các địa điểm mà chúng tôi có mặt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi đặc trách mặt trận Bình Long và chiến trường An Lộc, thực sự như 1 thách đố đối với cá nhân tôi cũng như nhiều người khác đã từng tìm cách vào An Lộc. Chuyến đi của tôi khởi sự vào trung tuần tháng 4/72 và tôi đã chỉ có thể hoàn tất 2 tháng sau đó, tức vào ngày 13/6/72. Trong 2 tháng trời ròng rã này, mỗi lần khởi hành đều kéo theo 1 thất bại cho riêng tôi và cả các anh em khác đi cùng. Có những người bị thương, có những kỷ niệm chua sót nhưng đau đơn hơn là cả cái chết của cố phóng viên điện ảnh, thiếu úy Nguyễn Ngọc Bình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một tuần lễ chờ đợi, lên trực thăng rồi lại xuống trực thăng, ăn chực nằm chờ dưới những cơn lốc cát nóng bỏng ở phi trường Lai Khê, Bình Dương, ngày 29/4/72, chúng tôi khởi sự cuộc hành trình phiêu lưu vào An Lộc, thời gian này An Lộc bước vào ngày tử thủ thứ 22, áp lực địch đang lúc mạnh và quân CSBV tạo được 1 lưới lửa phòng không suốt dọc phi trình vào thành phố anh hùng này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong ngày này chúng tôi không tới được mục tiêu, trực thăng chở chúng tôi bị bắn như mưa cho khi tới đồn điền Xa Cam. Tại đây địch quân pháo kích hàng loạt vào bãi đáp, các phi công quyết định bay trở về. Trên cao độ hơn ngọn cây ở Xa Cam, chúng tôi nhìn thấy hàng trăm thương bình đang chờ đợi được di tản về Lai Khê, có những người nằm trên băng ca, có những người chạy tán loạn dưới những tiếng nổ chát chúa cát bụi mịt mờ của đạn pháo kích. Họ chạy theo hướng trực thăng đến như muốn bấu víu vào những hy vọng cuối cùng của sự sống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi cảm thông tình cảnh này vì chính mắt tôi trông thấy những thương binh ở Lai Khê, những người còn đi lại được; những vết thương đã có dòi và những ký sinh trùng ghê tởm này đã rớt vương vãi khi anh em từ trên trực thăng tản thương bước xuống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đợt trực thăng hôm đó, không có 1 thương binh nào về tới Lai Khê vì các phi công không thể hạ tàu giữa cơn mưa pháo kích của địch quân. Trên đường về, địch cũng bắn rát như khi chúng tôi tới, 1 trong các loạt đạn của địch đã khiến chiếc trực thăng chở chúng tôi không còn điều khiển được và phi công đã hạ khẩn cấp xuống 1 bãi trống chính giữa 1 khu rừng rậm ở phía Nam đồn điền Xa Cam. Trong những khoảnh khắc kinh hoàng, 1 trực thăng Gunship yểm trợ đã đáp xuống khu đất này để cứu sống tất cả chúng tôi gồm 4 nhân viên phì hành và 4 phóng viên chiến trường.&lt;br /&gt;Ngày 1/5/72, trong 1 chuyến đi tương tự, điện ảnh viên Nguyễn Ngọc Bình đã giã từ ống kính khi trực thăng chở anh nổ tung vì đạn B40 của Cộng quân. Vào khoảng thời gian này, dày đặc trong các khu rừng cao su, Cộng quân trí các ổ đại bác phòng không bắn bằng radar, các hỏa tiển địa không phóng tay cũng như các ổ đại liên khạc đạn không ngừng. Bởi vậy, các phi công ta đã phải liều lĩnh bay sát trên đầu ngọn cây để vô hiệu hóa khả năng phòng không địch điều khiển bằng "mắt thần", tuy nhiên khi bay thấp, phi cơ ta phải chấp nhận đạn súng nhỏ và ngay cả đạn chống chiến xa B40 của địch, bắn từ những tên Cộng quân bị cột người trên các ngọn câỵ Sau đây là 1 lời tường thuật của 1 người đã có mặt tại vùng này:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#3333ff;"&gt;"Theo tôi biết thì Phòng 3 và Phòng 5/Bộ Tư Lệnh QK3 trước 75 có những tấm hình này vì anh em trong Phòng 5/SĐ5/BB có chụp. Chẳng những lính xe tăng bị xiềng chân mà cả những tên đặc công bắn sẻ cũng bị xiềng chân trên các nhánh cây cao su vì, theo lời khai các tên đặc công -- đa số là người miền Nam -- đã bị QLVNCH bắt thì, nếu không bị xiềng chân, chẳng có bao nhiêu tên đặc công VC dám ăn dầm nằm dề trên những nhánh cây cao su để theo dõi và bắn sẻ theo lệnh của bọn cán bộ BV. Lính của Tiểu đoàn 33 thuộc Liên đoàn Dù của tôi đã bắn chết một tên đặc công VC trên cây cao sụ Hắn chết treo tòn teng, phải bắt thang lên hạ xác hắn xuống. Tui được gọi ra Tiểu đoàn Dù 33 trên Đồi Gió chụp hình. Hồi đó, chụp xong rửa hình là giao cho Trưởn Phòng 5 (Chiến tranh Chánh trị) hết. Đâu có dè có ngày mình cần nó mà giữ lại vì... nhiều tấm hình mà tôi đã chụp được tại An Lộc nhìn qua rợn người". &lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau chuyến đi thất bại ngày 29/4/72, chúng tôi vẫn trong tình trạng chờ đợi và tiếp tục 1 vài lần "phiêu lưu" nữa không phải bằng trực thăng nhưng bằng con đường máu mệnh danh bằng con dường xui xẻo 13 (quốc lộ 13). Ngày lại ngày, đoạn đường Lai Châu - Chơn Thành trở nên quen thuộc với chúng tôi, nhưng hết tuần lễ này đến tuần lễ khác chúng tôi không có cơ hội để vào An Lộc bằng đường bộ. Địa điểm xa nhất mà chúng tôi đạt tới chỉ là suối Tàu Ô, con suối tử thần đã cầm chân đoàn quân khai thông quốc lộ hơn 2 tháng trời và vẫn còn tiếp tục cho tới sau ngày tôi vào được An Lộc và trở ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên đọan đường ngắn ngủi này, chúng tôi lại gánh chịu những kỷ niệm đau thương mới, khi theo chân đoàn chiến xa của chi đoàn 1/20 đi khai thông quốc lộ. Đức Tài, biệt danh của ông Đại úy chi đoàn trưởng 1/20, không phải là 1 xa lạ gì với các phóng viên chiến trường. Đức tài từng là anh hùng thiết giáp trên chiến trường Kampuchiạ Ngày 24 xuất trận tại Lai Khê, Đức Tài đã ôn lại kỷ niệm cũ với nhóm phóng viên chiến trường và chính anh đã đãi chúng tôi bữa hủ tiếu sau cùng ở câu lạc bộ sư đoàn 5.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng 24, Đức Tài dẫn mấy chục con "cua sắt" đến Chơn Thành để từ đây anh tham gia măt trận Bình Long. Gặp nhau tại Bộ chỉ huy tiền phương trung đoàn 32 ở phía Bắc Chơn Thành, Đức Tài còn đưa 2 gnón tay thành hình chữ V làm dấu hiệu chiến thắng khi leo lên chiếc M113 để dắt đoàn cua sắt M41 tiến và tử địa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai người trong nhóm chúng tôi là Lê Thiệp và Dương Phục định leo lên xe Đức Tài để đi cùng, không hiểu sao lúc đó tôi lại cản và nói: "Đi theo sau tiện hơn." Đức Tài dẫn đoàn xe đi, chúng tôi dồn cục lên 1 chiếc xe Jeep theo sát chiếc M41 sau cùng. Đoàn xe mới chạy chừng 5 phút, chúng tôi nghe những tiếng đạn pháo kích và tiếng súng liên thanh nổ rền. Mỹ voi, điện ảnh viên quân đội, lao vội chiếc xe xuống lề đường, la lớn: "Xuống hết đi tụi bay, đụng rồi."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai phút sau, khi chúng tôi chạy lên chỗ 1 chiếc xe M41 đang nhả đạn 76 ly vào bìa rừng thì người trưởng xa leo lên pháo tháp la thất thanh: "Đức Tài bị rồi, hỏa tiển 122 ly pháo trúng xẹ" Đoàn chiến xa bị chặn lại tại đây và 1 phi tuần A1 tới thả bom 2 bên bờ rừng. Chúng tôi trở về trung đoàn 32 để nhìn mặt Đức Tài lần cuốị 2 người lính khác cũng hy sinh với Đức Tài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cái chết ở mặt trận này đến thật mau lẹ, chỉ mấy phút sau khi làm dấu hiệu chiến thắng hình chữ V, Đức Tài đã vĩnh viễn ra đi trong sự ngơ ngác bi thảm của cả đoàn quân vừa khởi sự tham gia mặt trận Bình Long không đầy nửa tiếng đồng hồ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#3333ff;"&gt;An Lộc Địa Sử Ghi Chiến Tích...&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sau bao nhiêu lần đi, bao nhiêu trắc trở, tôi vẫn định bụng là sẽ phải vào An Lộc để nhìn thấy tận mắt thị trấn anh hùng này, nhìn thấy tận mắt sự tàn phá khủng khiếp vô lý của chiến tranh. Để được thấy, chứ không phải nghe nói về sức chịu đựng và những biểu tượng về tinh thần chiến đấu vô biên của tất cả những người đã giữ vững An Lộc, cho dù thành phố này không còn là 1 thành phố nữạ Ngày 13/6/72, toán phóng viên lại lên đường. Ngoài tôi còn có Đại úy Ngguyễn Văn Quí, sĩ quan báo chí sư đoàn 5. Dương Phục, Đài tiếng nói Quân đội, Anh Thuần của báo Tiền Tuyến, Tam Phong Slao Quắn của sư đoàn 5 và Hébert thuộc hệ thống truyền thanh truyền hình của Canadạ Người phóng viên quốc tế này đã bị tử thương ngày 23/7/72 lúc theo dõi chiến trận Quảng Trị sau khi An Lộc được giải tỏạ Tất cả chúng tôi được ngồi chung trên 1 trực thăng UH trong 1 đợt đổ quân của tiểu đoàn 2/31 củ sư đoàn 21 BB tăng viện cho mặt trận An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;South Vietnamese soldiers defending Quan Loi air field, three kilometers to the east of An Loc&lt;br /&gt;Vào khoảng thời gian này, phòng không địch không còn mạnh mẽ như những chuyến đi trước của chúng tôi vào 2 tháng 4 và 5. Các phi công ghi nhận là quân CSBV chỉ còn 1 ổ đại bác 37 ở phía Bắc Tân Khai và 1 số ít đại liên dọc theo các rừng cao su mà thôị Đoàn trực thăng 5 chiếc "lao" xuống Xa Cam lúc 11 giờ sáng và ngay khi chân vừa chạm đất chúng tôi bắt đầu nghe những tiếng xé gió và những tiếng nổ chát chúa, địch bắt đầu pháo kích theo như thói quen thường lệ, mỗi khi nghe tiếng động cơ trực thăng vọng về. Đã có nhiều kinh nghiệm tại mặt trận này, tất cả chúng tôi, không ai bảo ai chạy túa vào 2 bên rừng cao su và lao mình xuống những hố đạn cũ gần nhất. Địch ngưng pháo sau chừng 15 trái đạn, đây là các ụ súng của ta bị địch chiếm ở phía Đồi Gió, trong những ngày đầu chiến trận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dứt tiếng pháo, chúng tôi chạy theo 2 ven rừng cao su; phía trước là các toán quân vừa được trực thăng vận tới, họ di hành theo đội hình hàng dọc, nhiệm vụ của họ là tới An Lộc và từ đó tăng cường các cánh quân tảo thanh địch quân ở vòng đai tỉnh ly.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Được chừng hơn 100 m, Đại úy Quí bắt đầu kiểm điểm "quân số" trong toán chúng tôi, thiếu mất ông phó nháy Slao Quắn và phóng viên Tiếng nói Quân đội Dương Phục. Chúng tôi quyết định tìm chỗ núp để chờ. Có lẽ Slao Quắn và Dương Phục chạy qua phía rừng bên kia khi Cộng quân pháo kích bãi đáp. Một lát sau họ bắt kịp chúng tôi tại tấm bảng xi măng "Plantation de Xacam."&lt;br /&gt;Dương Phục thở hổn hển, đất đỏ Bình Long nhuộm mồ hôi tạo cho gương mặt hắn 1 màu kỳ dị. Hắn cho biết trong lúc chạy pháo kích, cái túi đeo của hắn văng mất và sức ép của tiếng nổ lẫn cánh quạt trực thăng đã làm những đồ vật trong túi bay như bươm bướm. Dương Phục mất hết các vật dụng riêng của hắn ngoại trừ tìm lại được xác cái máy cassette đã trở thành vô dụng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đoạn đường từ Xa Cam vào An Lộc chỉ hơn cây số nhưng tôi đã có cảm tưởng là đã vượt đoạn đường di hành dài mấy chục cây số. Có lúc tôi định quẳng cái ba lô cho nhẹ và cũng để nhảy xuống hố tránh pháo dễ dàng. Tuy nhiên khi nghĩ tới mấy vật dụng cần thiết và mấy túi lương khô, tôi đã cố gắng đeo cái túi càng ngày càng nặng chĩu này để đi "bắt tay" Tướng Hưng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;An Lộc đã vào trong tầm mắt thì vừa lúc chúng tôi nhận ra 1 thương binh mặc quần áo rằn ri, đang rên rỉ bên cạnh xác chiếc T54 cháy nám đã bắt đầu rỉ sét. Máu nhuộm đỏ thân mình, người thương binh dơ cánh tay yếu ớt về phía chúng tôi rồi chỉ vào miệng anh, có lẽ anh đang trải qua cơn hát cháy cổ của những người bị thương mất máụ Cùng lúc này địch lại pháo mấy trái đạn, tiếng rít gió nghe lạnh mình, những tiếng nổ chát chúa, tiếng cành cao su gẫy rào rào, trái đạn đã vào trong bờ rừng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có tiếng ai gọi lớn :"Chạy mau đi, thoát khỏi chỗ này", tất cả chúng tôi cắm đầu chạy như bay về phía trước, nhiều xác T54 rải rác, 1 chiếc xe be vàng chói đầy vết đạn pháo kích nằm vắt ngang con dốc. Đại úy Quí quay lại nói: "Toàn vết pháo mới, chạy mau đị" Người ta gọi con dốc có chiếc xe be là khúc quanh tử thần, vì chỉ riêng tại nơi này hơn 200 thương binh và những người được phép di tản đã chết vì đạn pháo kích trên đường đón trực thăng ở bãi đáp. Hình ảnh người thương binh vẫy tay xin nước ám ảnh tôi suốt hành trình vào An Lộc và có lẽ cả quãng đời còn lại sau nàỵ Toán quân đi trước và cả toán chúng tôi đã không giúp gì được cho anh ta, dù muốn dù không đó cũng là điều "không nên, không phải".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Leo hết con dốc tử thần là bắt đầu vào An Lộc, 1 tấm bảng xanh lỗ chỗ vết đạn với hàng chữ "Chiều bắt buộc cho xe dân sự vào châu thành", đầu đường là 1 bót gác vách đá lố nhố thương binh. Họ đang chờ giờ ra bãi đáp trực thăng, quần áo mọi người nhuộm 1 màu nâu đỏ đặc biệt, đó là màu đất Bình Long.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đồng hồ chỉ 11 giờ 20, thế là chúng tôi chạy trong 20 phút từ bãi đáp Xa Cam vào An Lộc. Càng vào sâu, cảnh điêu tàn càng hiện rõ, trên con đường chúng tôi đi không 1 thước vuông đất nào không ghi lại những vết tích của chiến tranh. Từ xa hướng về, không một ngôi nhà nào nguyên vẹn, những mái nhà sụp đổ, thân tường nghiêng ngả lỗ chỗ vết miểng, những cột đèn siêu vẹo, dây điện đứt tứ tung và điểm thể hiện duy nhất cho sự kiện An Lộc chiến đấu cô đơn chính là những cánh dù tiếp tế phủ đầy mặt lộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sừng sững giữa khung cảnh hoang tàn, 1 bức tượng chiến sĩ tiến lên đập ngay vào tầm mắt những ai tiến vào An Lộc. Thật là kỳ lạ, bức tượng này đã đứng vững trong hơn 2 tháng trời An Lộc bị pháo kích tổng cộng gần 200,000 trái đạn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiểu khu ở phía tay mặt con đường, Đại úy Quí đã từng vào An Lộc trong những ngày chiến trận thảm khốc hồi tháng 5. Ông nói :"Các anh cứ di theo tôi coi chừng lạc". Đi chừng hơn 100 m, chúng tôi trông thấy 1 dinh thự 2 tầng đã sụp đổ phần trên, đó là Tòa hành chánh Bình Long, những hàng chữ bảng xi măng đúc không còn nguyên vẹn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mùi xú uế nồng nặc đến lợm giọng. 1 thứ mùi đặc biệt của thịt người và thú vật đã sình thốị Bộ Chỉ huy của Tướng Hưng nằm phía sau Tòa Hành chánh. Những dãy nhà mất mái, đổ tường, hầm của của Tướng Hưng ở phía dưới 1 trong những căn nhà này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi bước vào 1 lối đi nhỏ hẹp, đó là đường dẫn xuống trung tâm hành quân của Tướng tử thủ Lê Văn Hưng, Tư lịnh mặt trận Bình Long. Căn hầm tù mù, 1 ngọn đèn duy nhất chừng 45 nên chỉ mang lại 1 chút ánh sáng vàng vọt, không đọc nổi 1 bức thự Sau này, chúng tôi dược biết Tướng Hưng chuẩn bị cho những ngày phong tỏa kéo dài, ông có 3 máy điện riêng nhưng nhất quyết chỉ xử dụng 1 máy, công suất của máy chỉ đủ dùng cho hệ thống siêu tần số và các máy liên lạc, còn thừa lại là ánh đèn khô héo trong hầm chỉ huy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tướng Hưng tự hạn chế mọi tiện nghi riêng để dành cho sự sống còn của Bình Long. Nếu không còn mạch điện cung cấp cho hệ thống liên lạc thì An Lộc sẽ thất thủ tức khắc. Ngoài căn hầm nhỏ dành riêng cho ông và nơi này chỉ được thắp sáng khi cần, bằng pin Magnésium với bóng dèn xe đạp.&lt;br /&gt;Tướng Hưng chỉ xử dụng 1 máy phát điện, 2 máy còn lại phải phòng hờ trường hợp đán pháo kích làm hư hạị Hơn nữa, mức dự trữ nhiên liệu luôn luôn chỉ đủ cho thời gian 1 tuần lễ. Theo lời yêu cầu của Tướng Hưng, quân đoàn có cho thả dù các phuy xăng nhưng trong 10 thùng khi chạm đất đã phát nổ đến 9. Có những ngày Tướng Hưng phải ra lịnh đi mót xăng từ các xác xe cộ năm rải rác trong thành phố. Nhiều người đã chết trong công tác bề ngoài rất tầm thường này, nhưng thực ra chính là sự hy sinh đầy ý nghĩa cho sự đứng vững của An Lộc trong hơn 2 tháng trời khói lửa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong "TOC" (Trung tâm hành quân) tù mù, Đại úy Quí trình diện "xếp" và giới thiệu từng người trong bọn tôị Tướng Hưng mặc áo thun xanh và có nụ cười hiền từ, ông bắt tay mọi người và khất đến sau phiên họp hành quân sẽ để chúng tôi phỏng vấn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Căn hầm của Tướng Hưng rất hẹp so với số người chen chúc làm việc trong đó, kích thước chỉ chừng 4x10 m, tất cả bộ tham mưu của ông làm việc dưới này và không 1 ai có quân phục đàng hoàng, không áo thun thì cũng mình trần. Vào buổi chiều Tướng Hưng ra khỏi hầm để anh em chúng tôi thực hiện 1 "show" dã chiến. Chúng tôi nhận rõ khuôn mặt gầy gò rất có nét của ông. Điểm đặc biệt là làn da ông trắng xanh sau hơn 2 tháng làm việc dưới hầm, tránh các trận địa pháo kinh hoàng của Cộng quân mà có lúc đã lên tới khoảng 7,500 trái trong 1 ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc phỏng vấn, Tướng Hưng thay vì nói về mình đã chỉ đặc biệt đề cao tinh thần chiến đấu của tất cả các chiến sĩ thuộc mọi quân binh chủng đã giữ vững An Lộc và tình cảnh bi đát của cả chục ngàn đồng bào kẹt giữa vùng lửa đạn Bình Long. Tướng Hưng ca ngợi tất cả các lực lượng chiến đấu không riêng gì sư đoàn 5, lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân dưới sự điều khiển của Đại tá Nhật, tiểu khu trưởng Bình Long, anh em lữ đoàn 1 Nhảy Dù dưới quyền Đại tá Lê Quang Lưỡng, các chiến hữu liên đoàn 81 Biệt Cách Dù thuộc quyền Trung tá Huấn (sau này là Đại tá), anh em Biệt Động Quân và 1 số lực lượng tăng phái thuộc các sư đoàn 21, 9 và 18.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau cuộc phỏng vấn, Đại úy Quí đi lãnh mấy chục túi gạo sấy và thịt "menu à la carte" của An Lộc. Cùng lúc này chúng tôi gặp lại tất cả các anh em phóng viên chiến trường đi lẻ tẻ vào An Lộc. Nhóm này gồm có Cầu, Mỹ Voi, Hoàng và Lộc thuộc điện ảnh truyền hình quân độị Hoàng bị thương "sứt mũi" nên ngày chiều 13/6/72 đã theo 1 trực thăng tản thương về Lai Khệ&lt;br /&gt;Dỗ Văn Mỹ tục danh Mỹ Voi vì anh to và khoẻ như voị Mỹ Voi được tất cả anh em quí mến vì hắn luôn luôn coi trọng bạn bè hơn bản thân. Hắn thường xuyên lo lắn cho anh em từ chiếc chiếu ngủ đến cả bữa cơm gạo sấy thịt hộp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong chuyến "phiêu lưu" vào An Lộc, Mỹ Voi gặp nhiều may mắn đã tìm được thi hài đồng nghiệp Nguyễn Ngọc Bình, tự tay hốt cốt bạn gởi về Saigon. Điện ảnh viên Nguyễn Ngọc Bình bị nổ phi cơ hôm 1/5/72 trên đường vào An Lộc; 11 người trên chiếc trực thăng này đều thiệt mạng. Ngày 11/6/72, Mỹ Voi theo chân trung đoàn 15 hành quân trực thăng vận vùng Tân Khai và từ đó anh đã đi bộ 15 km đường rừng để vào An Lộc. Trên đường hành quân, Mỹ Voi bắt gặp xác chiếc trực thăng bị bắn hạ và di thể 11 người trên phi cơ, hắn nhìn được xác Nguyễ Ngọc Bình đã rữa nát nhờ chiếc máy quay phim và các "reel" phim trên ngực. Tất cả 11 di thể những người chết không một ai còn thẻ bài và Mỹ Voi tin chắc là đã tìm được xác Bình nhờ 1 mớ tóc bạc trên xương sọ. Mỹ Voi đã xin 2 thùng đạn "moọc chê" để hốt cốt Bình và năn nỉ Trung tá Trung đoàn trưởng 15 giúp gởi trực thăng tản thương về Saigon. Sau này khi nhận cốt chồng, quả phụ Nguyễn Ngọc Bình xác nhận đó là những phần còn lại của Bình nhờ 1 vết riêng ở răng của anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#3333ff;"&gt;Nếp Sống Tử Thủ&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Kéo dài với những tháng ngày phong tỏa, chiến binh tử thủ An Lộc và số đồng bào còn kẹt trong vùng lửa đạn nhiều khi đã chia xẻ với nhau tất cả những thứ gì có thể ăn, để mà tiếp tục sống. 1 túi cơm sấy cũng phải chia làm nhiều phần để cùng nhau tiếp tục...chờ pháo kích và chiến đấụ Có những khoảng thời gian người "tử thủ" trông mong những cánh dù tiếp tế như những chứng tích duy nhất cho sự liên lạc giữa hậu phương và mặt trận. "Hàng" đến, có khi là 1 bao gạo, 1 con heo quay, 1 thùng thuốc lá, mấy chục ký bánh mì hay có khi là những thùng đạn khẩn thiết cho sự đứng vững của thị trấn này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thực phẩm tươi và rau cỏ hầu như không được tìm thấy tại An Lộc trong suốt 2 tháng trời tử thủ ban đầụ Lúc đầu người ta còn chia xẻ với nhau 1 số thịt tươi của 1 vài trại gà, mấy con bò bị đạn pháo kích chết. Nhưng tất cả nguồn cung cấp này chỉ có thể kéo dài trong 2 tuần lễ là nhiềụ Những ruộng rau muống ở một vài khu vực trong thành phố khô cằn vì các cơn nắng cháy Bình Long, mùa mưa khởi sự vào đầu tháng 5 đem đến 1 chút sinh khí cho thành phố này trong những ngày tử thủ thứ 40 trở đị Nước mưa làm rau muống đâm chồi trên các vũng lầy ở quanh thành phố. Nhưng rau muống cũng là 1 trong các đầu mối bắt nguồn cho sự bi thảm. Ở An Lộc chết có đủ kiểu, đủ cách và tử thần rình rập ở mọi khoảng không gian lẫn thời gian. Có những người đã chết khi đi hái rau, người ta đã hái rau từ những ao đầy xác người chết vì chiến trận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xác quân CSBV tùng thiết (bộ binh theo bảo vệ chiến xa), xác thường dân chết vì pháo kích và xác chiến binh VNCH tử thủ đã ngã gục cho sự đứng vững của An Lộc. Ao rau muốn Ấp Thánh Mẫu là 1 điển hình; rau mọc kín tới bờ ao, lẫn lộn với xác người đã sình thối, cũng chỉ đủ cung cấp cho binh sĩ trong vài ngày là đã cạn nguồn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đêm 13/6/72, chúng tôi ngủ nhờ hầm Tướng Hưng. Đây là 1 căn hầm khác có lối đi thông qua hầm trung tâm hành quân. Tướng Hưng ít khi nào ngủ tại hầm riêng; ông hầu như làm việc 20 giờ 1 ngày với các bản đồ hành quân và một dọc máy truyền tin chằng chịt. Ông "lên máy" hầu như vào mọi lúc. Ông liên lạc với từ cấp trung đội trưởng trở lên để biết rõ tình hình và từng vị trí một, nhất là những khi có chiến xa CSBV xuất hiện trong thành phố.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đôi lúc ông tướng này thiếp đi ngay trên bàn làm việc, nếu không, ghế bố tại TOC sẽ là nơi ông chợp mắt trong khoảng vài tiếng đồng hồ 1 ngàỵ Cả 1 ngày mệt mỏi với những giây phút căng thẳng chạy đua với thần chết, đêm xuống tất cả chúng tôi ngủ mê man bỏ quên mọi chuyện, quên những tiếng đạn nổ từng chập và đàn muỗi đói vo ve như sáo thổi dưới căn hầm hỏa lò.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đã từng được nghe nói trước khi vào An Lộc, thức giấc lúc 7 giờ sáng, chúng tôi hỏi Đại úy Quí, "Ở đây không có đánh răng rửa mặt gì hết, phải không ?." Ông trả lời 1 cách ỡm ờ: "Chắc vậỵ" Ấy thế mà 2 ông Dương Phục, Anh Thuần vẫn xin đâu được 1 ca nước nhỏ thường thì chưa đủ cho 1 người súc miệng, 3 chúng tôi rửa mặt chung bằng số lượng nước quí giá nàỵ Mấy người lính tử thủ nói với chúng tôi: "Bây giờ là thần tiên rồị Hồi tháng 4, tháng 5 nước uống khiếm không ra, nói chi cái công tác vệ sinh cá nhân xa xỉ."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn cung cấp nước ở An Lộc là mấy cái giếng ở khu phố chợ và con suối ở ngoại ô thành phố. Lính tử thủ hàng ngày xách các can xăng đi tìm nước cho mình và cho đồng độị Có lần 1 sĩ quan tham mưu của Tướng Hưng chết trong khi đi tìm đường suối tắm, Tướng Hưng đã "cạo" mấy ông sĩ quan thuộc Bộ Tư lịnh suốt ngày :"Ai cho mấy ông di tắm, không tắm đâu có chết, mấy chục ngày rồi tôi có tắm lần nào đâu, đâu có sao".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;14/6/72, 1 ngày tử thủ mới lại bắt đầụ Sự yên lặng kỳ lạ của 1 thành phố chết vây kín khoảng không gian nhỏ bé đã khiến cả vạn con người uổng tử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự yên tĩnh thê lương không kéo dài lâu, chúng tôi đang đứng ở phòng khách trống mái của Tướng Hưng, mấy người lính đang "chế" cơm chiên Dương Châu bằng gạo sấy và thịt hộp. Những tiếng xé gió vụt ngang và những tiếng nổ ầm ầm liên tiếp. Không còn ai ở ngoài, trong khoảnh khắc mọi người biến hết vào trong các hầm chìm hầm nổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dứt 1 loạt tiếng nổ, chúng tôi theo chân mấy anh em sư đoàn 5 ra khỏi hầm; họ cười nói huyên thuyên chẳng màng gì tới đợt pháo vừa nổ, có lẽ sự chịu đựng lâu ngày tạo cho họ thêm nhiều thói quen mới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi hỏi người lính đang luôn tay đảo cơm trong cái chảo gang :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- 82 hay 107?&lt;br /&gt;- Hoả tiển đấỵ Trúng hầm thì cũng tiêu luôn. Tụi nó có thứ đầu đạn xuyên hầm nổ chậm, ngoài sân nhiều lỗ lắm, lúc nào ra coi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người lính trả lời nhưng mắt vẫn không rời chảo cơm thơm phức.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu chuyện chưa dứt, Đại úy Quí xuất hiện với nón sắt áo giáo nhưng cởi trần, 2 tay ông truyền nhau 1 vật gì trông không rõ. Ông nói: "Miểng văng tới tận đây còn nóng hổi, các anh coi".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau đợt pháo chào buổi sáng của quân CSBV, chúng tôi sửa soạn xuống phố chợ để thăm 2 đơn vị anh hùng trung đoàn 8 BB và liên đoàn 81 Biệt Cách Dù. Quí dặn dò: "Áo giáp nón sắt, ba lô để lại để chạy pháo cho lẹ." Anh em chúng tôi băng qua mấy dãy nhà đổ nát, bắt đầu vào con dường đất đỏ Hàm Nghi, đã trông thấy khu phố chợ, cũng vẫn là 1 cảnh hoang tàn đổ nát. Y viện An Lộc đây rồi, không ai còn có thể nhận ra nơi đây đã từng là 1 bệnh viện nếu không có tấm bảng lỗ chỗ vết đạn treo lủng lẳng từ trên 1 đầu trụ xi măng có hàng chữ "Phòng nhận bệnh.."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Anh em tử thủ kể lại cho chúng tôi rằng trong những ngày máu lửa của Bình Long có đến 600 người đã chết tại bệnh viện này, kể cả thương binh, đồng bào bị thương đang được chữa trị cũng như những người lánh nạn tìm sự an toàn ở dấu hiệu quốc tế hồng thập tự. Cộng quân pháo kich dã man vào khu nhà thờ và nhà thương với mục đích rõ rệt, giết hại thật nhiều người để An Lộc hỗn loạn, binh sĩ mất tinh thần hầu chúng có thể dứt điểm An Lộc một cách mau chóng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bộ chỉ huy trung doàn 8 BB đặt tại 1 trong các cao ốc đang xây dở trên đại lộ Hoàng Hôn hay đường Trần Hưng Đạo cũng vậy, chúng tôi đến thăm nơi này giữa lúc Đại tá Mạch Văn Trường đang gắn lon Đại úy đặc cách mặt trận cho Trung úy Đào Lâm Tòng, 1 đại dội trưởng xuất sắc của tiểu đoàn 3/8. Trung úy Tòng sáng 14/6/72 đã giải tỏa đồi 100 phía Đông Bắc An Lộc và cắm hiệy kỳ tiểu đoàn 3/8 trên đồi này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 13/6, Biệt Cách Dù giải tỏa đồi Đồng Long ở vòng đai Bắc An Lộc và lá quốc kỳ VNCH phất phới tung bay trong nắng sớm sau 68 ngày Cộng quân chiếm cứ cao điểm 148 m nàỵ Cũng vào ngày 13/6 các chiến sĩ Biệt Động Quân gan dạ đã giải tỏa sân bay L.19 ở Tây Bắc An Lộc. Những chiến tích này khiến cho tất cả địch quân bị đẩy lui ra xa thành phố An Lộc và là 1 khởi điểm vàng son cho sự đứng vững của thành phố này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại tá Mạch Văn Trường, Trung đoàn trưởng trung đoàn 8 (sau này là Tư lệnh phó sư đoàn 5 BB) và Thiếu tá Hoàng Trung Liêm, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 52 pháo binh đã tiếp đón chúng tôi thật ân cần; họ xúc động vì sự có mặt của chúng tôi tại An Lộc. Đại tá Trường và Thiếu tá Liêm hướng dẫn chúng tôi đi quanh khu vực Bộ chỉ huy trung đoàn, từ 4 con đường xung quanh rải rác 15 chiếc T54 và PT76, cái thì đứt xích, lật nghiêng, cái thì văng cả pháo tháp nằm ngang ngửa trên mặt lộ. Duy có 1 điểm giống nhau, tất cả cùng nám đen và bắt đầu hoen rỉ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lâu ngày chưa có ai để tâm sự, Đại tá Trường miên man kể chuyện chiến trận cam go từ khi trung đoàn được trực thăng vận vào An Lộc ngày 11/4/72 và chịu đựng 4 trận tấn công biển người với chiến xa yểm trợ. Đại tá Trường "thú thật" cả đời đánh giặc chưa khi nào dự trận nào khủng khiếp như trận này và đây cũng là lần đầu tiên phải đương đầu với chiến xa địch. Trung đoàn từ Tri Tâm lên An Lộc ngày 1/4/72 nhận chuyên trách nhiệm phía Bắc An Lộc, lo luôn "tổng tiền đồn" cho sư đoàn 5. Không đầy 48 giờ sau, quân BV mở cuộc tấn công biển người đầu tiên vào An Lộc với từng đoàn chiến xa tiến nhanh như vũ bão vào thành phố. Trước cuộc tấn công đầu, địch bắt đầu "pháo tập" (trận địa pháo) vào thành phố từ 7/4 và kéo dài liên miên trong những ngày sau đó.&lt;br /&gt;Trận đánh ngày 13/4, lần đầu tiên chạm chiến xa địch và đương đầu với quân số đông đảo của địch quân, binh sĩ mất tinh thần thấy rõ. 20 phút sau đứt liên lạc với bộ chỉ huy là xe tăng BV xuất hiện. Biệt Động Quân và Địa Phương Quân chịu không nổi cũng rút luôn vào thành phố.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả mọi người chiến đấu được đều ra tuyến, M72 được xử dụng tối đa, cối 81 chần từng thước vuông một trên đường tiến quân địch, tùng thiết địch bỏ chạy, bộ binh BV phía sau không tiến lên được, xe tăng BV chỉ còn cách đậy nắp tiến một mình và làm bia nhắm cho M72 hủy diệt. Trận tấn công đầu thất bại, địch lui binh và tiếp tục trận địa pháo vào thành phố.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại tá Trường, xuất thân khóa 12 Võ bị Đà Lạt, tốt nghiệp tham mưu cao cấp, bởi vậy ông rất tôn trọng nguyên tắc chỉ huy tham mưu khi cầm quân. Sau trận đánh 13/4, lính chết và bị thương được đưa lui về phía sau để đại đội 52 quân y đảm trách và khỏi làm xuống tinh thần binh sĩ. Tuy vậy, ông cho biết là sau trận tấn công thứ hai ngày 15/4 ông không còn áp dụng "cẩm nang" này nữa, An Lộc chỗ nào cũng bị pháo, người đưa về quân y cũng không săn sóc được có khi lại gia tăng tổn thất khi di chuyển. Bởi vậy ông ra lịnh đơn vị nào lo cho đơn vị ấy băng bó lấy và chôn cất tại chỗ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua trận 13/4/72, cấp chỉ huy cũng như binh lính có thêm kinh nghiệm đánh chiến xa và không còn "khớp" như trước. Đại tá Trường và các sĩ quan của ông thấy rõ là sẽ diệt hết chiến xa địch nếu phân tán được chiến xa và bộ binh địch, cứ mỗi đại đội bộ binh thì có 4 chiến xa địch đi kèm. Làm tan rã bộ binh, xe tăng địch sẽ dễ dàng bị hủy diệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bởi thế ông pháo binh "nhà nghề" Hoàng Trung Liêm được giao phó dọn 1 bãi pháo binh trên con đường địch sẽ đi qua để vào tuyến trung đoàn 8. Sau nhiều giờ nghiên cứu, Thiếu tá Liêm chọn chỗ, tập trung hỏa lực súng cối và chờ đợi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 15/4/72, CSBV lại tiến vào An Lộc như lần trước với bộ binh và chiến xa, không may mắn cho họ là đã đi vào đúng "bãi pháo", bộ binh dịch chạy tán loạn và chiến xa không còn ai "tùng thiết." Xe tăng địch lại làm nước liều đậy nắp tiến lừng lững vào trung tâm thành phố, binh sĩ VNCH từ dưới hố nhảy lên phóng M72 từ sau đích xe tăng và biến cả khối thép khổng lồ thành những con "cua rang muối."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng từ trận này, 1 số binh sĩ được Đại tá Trường cho xử dụng súng chống chiến xa B40, B41 tịch thu được của quân BV, chỉ cần 1 phát là chiến xa địch cháy phừng phừng, lính CSBV nhảy từ trong xe ra, da thịt cháy vàng như bị thui.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại tá Trường nói tiếp: "Nếu bộ binh và chiến xa của tụi nó phối hợp được với nhau, An Lộc này chắc chắn đã thất thủ. Tại mặt trận này chúng tôi khôg có 1 xe tăng nào cả, chỉ có lèo tèo vài chiếc commando-car V100, nội pháo kích không cũng bị hư hại."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể từ trận tấn công thứ hai, 600 Biệt Cách Dù của liên đoàn 81 đã có mặt bên cạnh trung đoàn 8 ở tuyến Bắc An Lộc nên Đại tá Trường cũng nhẹ gánh phần nàọ Ông hết sức ca ngợi các chiến sĩ Biệt Cách Dù qua lời tuyên bố: "Biệt Cách Dù, cá nhân chiến đấu thuộc vào loại siêu đẳng trong quân lực tạ" Đại tá Trường run giọng khi nói đến những chiến hữu thuộc quyền ông đã vĩnh viễn ra di cho sự đứng vững của An Lộc: "Lúc đầu tôi để ý những người có công trạng, bắn hủy xe tăng địch, tôi ghi tên trong sổ tay, dần dà những người này đều tử trận, cuốn sổ chi chít tên những anh hùng hạ tăng địch, dần dà cũng dày đặc những hàng gạch đỏ xóa tên. Tôi có thằng tà lọt tên Sơn, lao công đào binh, cựu trung sĩ Nhảy Dù, theo lẽ thường thì lao công đào binh không được võ trang nhưng vì tình hình quá cấp bách, tôi cho nó M16 và rồi cả M72. Thằng Sơn chiến đấu gan dạ và bắn vào hạng lẫy lừng, một mình nó hạ mấy xe tăng địch, nhưng rồi nó cũng tử trận."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại tá Trường cũng ca ngợi lữ đoàn 1 Nhảy Dù, cánh quân trấn giữ mặt Nam An Lộc, nhất là cú "bắt tay" thần sầu của tiểu đoàn 6 và 8 Dù ngày 8/6. Đại tá Trường tâm sự: "Đại tá Lưỡng, Lữ đoàn trưởng lữ đoàn 1 Nhảy Dù tấn mặt Nam, tôi mặt Bắc, môi hở thì răng lạnh, hôm tôi bị thương ông lưỡng tới thăm và nói lúc này mà bị thương thì chết rồị Tôi kể chuyện bị địch đánh rát quá, ông Lưỡng khuyên nên biến chế mìn để chặn đường chiến xa địch. Nghe lời ông Lưỡng tôi cho chế cứ 2 đầu đạn 155 ly với ngòi nổ thành 1 quả mìn, mấy đợt tấn công sau này xe tăng CSBV bị lủng lườn hết vì mìn biến chế này."&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rời trung đoàn 8 BB, chúng tôi xuống 1 con dốc, chợ An Lộc ở dưới kia, đạn pháo kích đã làm nhà lồng chợ trơ trọi những khuôn sắt cháy nám, cả 1 vùng chung quanh chợ chỉ còn những đống gạch đổ nát. Trung đoàn 8 và liên đoàn 81 Biệt Cách Dù đóng cách nhau có 1 con đường nhỏ. Từ trên 1 vọng gác của trung đoàn 8, chúng tôi trông thấy những ngôi mộ mới được sắp xếp có hàng lối ở bên cạnh ngôi chợ hiu quanh và tan tành của An Lộc, đó là nghĩa trang Biệt Cách.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Địch vẫn chưa ngưng tiếng pháo, tuy vậy mấy người lính mũ xanh vẫn tiếp tục đi lượm gạch và xây vòng rào chung quanh nghĩa trang dành riêng cho anh em họ. Những người khác lúi húi dựng 1 đài kỷ niệm trước lối vào nghĩa trang. Giữa không khí kỳ quặc của thành phố chết, giữa những tiếng pháo nổ chát chúa, những hình ảnh chan chưá tình người này làm chúng tôi xúc động, và chúng tôi đã có mặt ở nghĩa trang Biệt Cách. Đài kỷ niệm cao hơn đầu người và có khắc 2 câu thơ mà sau này chúng tôi được biết là của 1 người con gái Bình Long đặt ra đề tặng các anh hùng Biệt Cách :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family:arial;font-size:130%;color:#ff0000;"&gt;An Lộc địa sử ghi chiến tích&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family:arial;font-size:130%;"&gt;Biệt Cách Dù vị quốc thân&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="left"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;Người thiếu nữ đó là Phạ Cô chẳng còn ai thân thích sau những ngày máu lửa ở An Lộc. Chính Pha cũng bị miểng đạn đại bác ghim vào chân. Các chiến sĩ Biệt Cách Dù đã tìm thấy cô và đưa về cho bác sĩ chữa trị ở khu phố chợ. Những buổi chiều im tiếng pháo, Pha đòi các anh em Biệt Cách Dù khiêng ra ngoài hè để nhìn cảnh Bình Long đổ nát. Những buổi chiều tiếp nốị..đến một hôm Pha bật khóc khi nghe mấy người lính mũ xanh kẻ tên các chiến hữu trên mộ bia ở nghĩa trang Biệt Cách. Tưởng rằng các dòng nước mắt đã khô cạn sau những ngày ròng rã bị "pháo tập" của CSBV, nhưng chính chiều hôm đó cô đã bật khóc và cảm đề 2 câu thơ trên chứa đựng biết bao đau thương tại An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#ff0000;"&gt;Làn sóng người xa lánh cộng sản&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;Trong trận chiến tháng 4/72, sự thất bại về quân sự của CSBV chắc hẳn không làm Hà Nội điên đầu cho bằng sự kiện quân "giải phóng" đi tới đâu là đồng bào ùn ùn bỏ chạy tới đó. Ghê tởm bằng kinh nghiệm của Tết Mậu Thân năm 1968 với cả ngàn thường dân bị chôn sống tại Huế, đồng bào Bình Long chạy tháo thân từ Lộc Ninh về An Lộc. Mọi người vượt lửa đạn bỏ hết tài sản, của cải tiến vào trong cõi chết để tìm sự sống, tình quân dân thắm thiết được tìm thấy ở An Lộc, không phải chỉ là sáo ngữ nhưng là sự thật. Đồng bào nuôi chiến sĩ, chến sĩ nuôi đồng bàọ Tướng Hưng thì diễn tả rõ hơn :"Lúc thì chiến sĩ đi chôn đồng bào, lúc thì đồng bào đi chôn chiến sĩ". &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Có 1 số người lưu lại An Lộc cho đến những giai đoạn sau cùng của cuộc chiến, có những người không chịu nổi những trận "pháo tập" kinh hoàng đã bồng bế dắt díu nhau hướng về phương Nam, vô^ số người bỏ mạng dọc hành lang máu từ An Lộc về Tân Khai qua Suối Tàu Ô tới Chơn Thành. CSBV cố công ngăn chặn đám dân chạy loạn này hầu bắt lính bổ sung các đơn vị kiệt quệ của chúng và đồng thời lưu giữ đàn bà trẻ em vì chúng biết chắc chiến sĩ VNCH không khi nào dám xả súng bắn vào đám thường dân ruột thịt dù trong đó lẫn lộn các đơn vị chính qui CSBV.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có những ngày khoảng 3000 người chạy qua Tàu Ô về tới Chơn Thành chỉ còn lại 500. Thảm kịch không ngôn ngữ nào diễn tả được, không gia đình nào toàn vẹn khi vượt qua lưới đạn ác nghiệt của CSBV để về vùng quốc gia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyến đi vĩ đại nhất diễn ra vào ngày 12/6/72. Khoảng 12000 đồng bào từ An Lộc tiến về hướng Nam qua Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch đến Tân Khaị Cộng quân đã chận bắn xối xả vào họ và có chừng 2000 người đã bỏ mạng. Tuy vậy hàng ngàn người còn lại đã tìm thấy ánh sáng của tự do ở Chơn Thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi đồng bào lên đường lúc hừng đông ở An Lộc, Đại tá Nhật,Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Long đã rưng rưng nước mắt tặng mỗi người 1 túi cơm sấy đủ ăn 1 ngày.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính quyền địa phương cũng như đồng bào đều hiểu rõ những nguy hiểm chờ sẵn trên "hành lang máu" đó, nhưng biết làm cách nào khác. Khi An Lộc không còn đủ thuốc men, lương thực, và quân CSBV vẫn có thể mở các trận đánh mới gây tổn thất thảm khốc cho số thường dân đông đảo nàỵ&lt;br /&gt;Trong số hơn trăm đồng bào lưu lại An Lộc cho đến hoàng hôn của cuộc chiến, bà Ngô Văn Xuyến, nhủ danh Văn Thị Ngôn, đã trở thành người nổi tiếng khi những cảm xúc chân thành của bà được phát thanh trên hệ thống truyền thanh quốc gia ngày trong những ngay trong những ngày An Lộc còn bị phong tỏạ TT Thiệu, trong chuyến viếng thăm An Lộc ngày 7/7/72 cũng đã tìm gặp bà để bày tỏ sự cảm phục của ông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà Ngôn đã diễn tả sự đùm bọc giữa lính và dân một cách mộc mạc, nhưng lại làm se sắt lòng người hơn bất cứ 1 bài văn nào diễn tả những tình cảnh ở An Lộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở An Lộc chắc hẳn có đến muôn ngàn câu chuyện bi thương, nhưng gương chiến đấu bền bĩ, sự chịu đựng đến tận cùng sức chịu đựng của con ngườị Người viết dù đã thực hiện được mộng ước lớn nhất trong đời phóng viên chiến trường là vào An Lộc để tỏ sự kính phục với tất cả những người đã giữ vững thành phố này, nhưng có lẽ đã chỉ được nhìn An Lộc dưới 1 góc cạnh đầy khiếm khuyết. Tuy vậy, điều chắc chắn và rõ ràng vẫn là &lt;span style="color:#3333ff;"&gt;&lt;strong&gt;An Lộc Anh Hùng&lt;/strong&gt; - &lt;strong&gt;Bình Long Anh Dũng&lt;/strong&gt;. &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/302179957027946240-2492232061231501401?l=anloc72.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/2492232061231501401'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/2492232061231501401'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2009/08/1972-loc-anh-dung.html' title='1972 - An Lộc Anh Dũng'/><author><name>quanbao18</name><uri>http://www.blogger.com/profile/16305558577772188899</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-302179957027946240.post-7631785418934859122</id><published>2009-08-01T16:45:00.000-07:00</published><updated>2009-08-30T16:57:02.192-07:00</updated><title type='text'>Hai tháng tử-thủ An-Lộc</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SpsRRbH9cyI/AAAAAAAAA1k/ycRux6QN_pE/s1600-h/Do+Duc+Thinh+(81BCD).jpg"&gt;&lt;img style="MARGIN: 0px 10px 10px 0px; WIDTH: 180px; FLOAT: left; HEIGHT: 210px; CURSOR: hand" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5375909571233411874" border="0" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SpsRRbH9cyI/AAAAAAAAA1k/ycRux6QN_pE/s320/Do+Duc+Thinh+(81BCD).jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Đỗ-đức-Thịnh &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;(Bài trích đăng từ Đặc San GĐ81/BCND số 2 ngày 1tháng 7/1998)&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Những ngày cuối tháng tư ở Boise khi hậu ấm lạ thường. Ánh nắng sáng chan-hoà trên khắp vạn vật nhờ ở hiện-tượng El Nĩno đã xoa đi khí lạnh của mùa Đông, đây đó trong vườn những khóm hoa Locust, Daffodills, Tullips đã nở rộ khoe sắc thắm và lũ ong bướm đi về báo hiệu Xuân sang. Tháng tư trong tôi có nhiều kỷ-niệm quá, kỷ niệm êm đềm cũng như những cay đắng ê chề của người lính VNCH vào ngày cuối của tháng tư năm 1975, hay nhớ xa hơn 3 năm nữa, vào tháng tư năm 1972 là ngày Liên-Đoàn 81/BCND chúng tôi tiến vào An-Lộc để phản-công và giải tỏa thành phố đang bị xâm chiếm bởì Việt-Cộng. Đã 26 năm qua, tuổi đời dài theo năm tháng, tóc đã điểm muối tiêu, trên khuôn mặt đầy thêm những vết nhăn nhưng hình ảnh của trận chiến An-Lộc vẫn không xóa nhoà trong tâm tưởng. Tôi xin được trở lại thời gian xa xưa ấy để viết lên vài giòng gửi đến các bạn, xin hãy cùng tôi nhớ về thành phố An-Lộc để tưởng niệm đến những người dân, người lính đã nằm xuống trong thành-phố nhỏ ấy và nhất là 68 đồng đội của chúng tôi đã gác súng tại chiến trường với bia đề do cô giáo Pha cảm tặng.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;"An-Lộc địa sử ghi chiến-tích &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Biệt Cách Dù vị quốc vong thân" &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Ngày 16/4/72 đơn vị chúng tôi còn đang hành quân xâm nhập toán thám sát ở vùng Đầu Chó giáp biên giới Miên, căn cứ hành quân đóng tại phi trường Trảng-Lớn Tây-Ninh. Các toán thám sát phát hiện nhiều chiến xa địch đang di chuyển trong vùng. Những điểm nóng đó được báo cáo về bộ chỉ-huy, quân đoàn III và bộ TTM. Tại trung tâm hành quân, sau khi chấm toạ độ dừng quân của các toán trong rừng, tôi và mấy thằng bạn xin phép ra phố Tây-Ninh ăn trưa và mua một vài vật dụng cá-nhân. Đang lang thang trong thành phố dưới cái nóng nung người đột nhiên một chiếc xe jeep ngừng ngay chỗ chúng tôi, trên xe có đại-úy Nguyễn Sơn. Lệnh của anh Sơn:&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;-Mấy anh lên xe về căn cứ gấp, có lệnh hành quân mới&lt;br /&gt;-Cho tôi mua thêm hai cuốn phim nữa mà mình đi đâu vậy đại úy? Tôi hỏi.&lt;br /&gt;-Về căn cứ sẽ biết.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Chiếc xe jeep đảo thêm vài vòng trên các con đường chính và gom được thêm vài ba đứa nữa, nhíp xe đã oằn xuống vì sức nặng và chỗ ngồi cũng chật cứng đại úy Sơn mới lái về phi trường Trảng-Lớn. Tại đây các Đại-Đội, bộ Chỉ-Huy, Liên Toán Thám Sát đang tập họp điểm danh quân số. Sau đó trong lều thuyết trình hành quân tôi được biết Liên-Đoàn 81/BCND sẽ vào An-Lộc để giải vây. Theo dõi báo cáo hành quân tôi được biết Lộc-Ninh đã thất thủ 9 ngày trước đó, quốc lộ 13 đã bị Việt Cộng kiểm soát từ phía Nam của Lộc Ninh và cắt đứt giao-thông từ phiá Nam của thị xã An-Lộc. Tự nhiên tôi có cái linh-cảm trước sự thử thách gay go, những gian nguy trước mặt. Đơn vị chúng tôì là đơn-vị được hành quân trong cuộc chiến bất qui-ước gồm các toán nhỏ được thả vào các mật khu an-toàn của VC để thu thập tin-tức, bắt cóc các VC đi lẻ tẻ hay chỉ điểm cho các phi-pháo, B52 v.v...Khi có đầy đủ tin tức và lượng sức mình, đơn vị sẽ mở cuộc đột kích chớp nhoáng, quân số đột kích có thể từ Trung-Đội, Đại-Đội hay Tiểu-Đoàn Trừ như lần phục kích đoàn xe 8 chiếc của Việt-Cộng ở thung-lũng Ashau vào tháng 4 năm 1968. Nay đơn vị được chỉ-định vào cuộc chiến đại qui mô nên tôi cũng phân vân, giao-động đôi chút. Nhưng các bậc đàn anh của tôi đã dự trận Cây Quéo, Cây Thị ở Gia-Định vào năm 68 với chiến thắng vẻ vang trong chiến thuật tác chiến trong thành phố đã cho tôi niềm tin vững mạnh. Cũng ngày hôm ấy tôi được lệnh khỏi phải làm bảng tổng kết hành quân để gửi về Bộ TTM. TS1 Trịnh Dân ở trại Bắc-Tiến sẽ đúc kết công việc tôi đang làm. 8 toán thám sát đang hoạt động trong vùng địch được lệnh tìm bãi đáp để triệt xuất và sẽ vào An-Lộc sau với Chỉ-Huy phó là trung-tá Trần-phương-Quế (ngày 20/4 khi các toán này cùng Tr/tá Quế đến được Lai-Khê, họ nhận được lệnh của tr/tá Huấn chỉ thị cho các toán này trở về hậu cứ ở Trung-Chánh). Căn cứ hành quân ở Trảng Lớn sẽ được đại-đội chỉ huy yểm trợ tháo gỡ và chuyên chở về trại Bắc Tiến...&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi được cấp phát thêm khẩu phần lương khô, đạn dược và mỗi toán 40 quân nhân được trực thăng vận bằng máy bay Chinook đến Lai-Khê. Tiếng cánh quạt chém phần phật vào không khí, thêm vào những giao động của phi cơ đang chao đảo trên không, những nét mặt ưu tư của người lính chiến tạo nên một sự chờ đợi căng thẳng. Sự ngột ngạt ấy đã được đánh tan bằng một bản nhạc quân hành do bạn nào đó cất giọng: "Đây khúc ca vang nơi quân-trường đầy hào hùng, vai ghé vai ta thi tài trong tình quân ngũ, đường còn dài nhưng chân cứng đá mềm.1..2..3..4..1..2..3..4.." Đã từ lâu lắm nay tôi mới được hát và nghe lại một nhạc khúc quân-hành, những khuôn mặt khắc khổ và thân thương trong giây phút ấy được ghi nhận trong ánh mắt của những ngườì lính chiến và sẽ còn mang mãi cho đến ngày cuối đời. "Thao trường đẫm mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu, cố lên, cố lên dù nhọc nhằn đem mồ hôi pha máu hồng viết vào sử xanh...."&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Tại phi trường Lai Khê chúng tôi lại chia thành toán 10 ngườì rải dọc dài theo phi đạo để chờ phi đoàn trực thăng Việt-Nam bốc vào An-Lộc. Cái nắng nóng không một ngọn gió vào 2 giờ trưa thật tai ác, nhìn phi đạo dài với hơi nóng hun hút bốc lên, mặt nhựa đường chẩy dính và nhất là chẳng có một bóng mát khả dĩ nào cho mình tạm trú. Mở bi đông xấp nước ướt vào khăn mặt xong phủ lên đầu tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Chợt hai tiếng nổ long trời và hai cuộn khói đen bốc lên cao bên kia rừng cao su. Qua máy truyền tin tôi được biết kho đạn ở Lai-Khê đã bị đặc công VC phá huỷ. Tiếng rè rè ở ống liên hợp máy truyền tin ngưng bặt và có lệnh cho chúng tôi sẵn sàng, trực thăng sẽ đến trong vòng mười phút nữa. Tôi mừng quá vì ít nhất mình sẽ hưởng được chút nào gió mát khi trực thăng cất cánh. Chúng tôi lên tầu rất nhanh vì đã quá quen thuộc với chiếc trực thăng UH1B này. Tôi và con nhà Lễ (TS1) ngồi phía trái của trực thăng thả hai chân ra ngoài cho gió đong đưa thật thú vị. Đoàn trực thăng bay ở cao độ thấp, 20 đến 30 mét trên đồn điền cao su dài và xanh thẩm. Có tiếng súng bắn lên trực thăng từ dưới rừng cao su, chúng tôi cố quan sát và lắng nghe hướng xuất phát ra tiếng nổ nhưng vận tốc nhanh của con tầu cùng tiếng ồn ào của động cơ đã không cho chúng tôi định hướng được để trả lễ vài tràng M16. Người xạ thủ đại liên trên tầu chúng tôi bắt đầu chong súng khạc đạn xuống những điểm khả-nghi, chợt khẩu đại liên bung khỏi tay anh và gục xuống trên trụ súng lắc lư theo sức gió của con tầu. Ôm cánh tay bị thương anh nói "ĐM. Trúng đạn rồi" Nhờ có sợi dây an-toàn nịt từ người vào khoen sắt trên trần nên anh đã không bị rơi xuống đất.. Tôi và Lễ lấy dao sẻ tay áo anh lên để làm đai chỉ huyết, cánh tay bị bể xương phía dưới khuỷu tay còn dính lại với phần trên nhờ bắp thịt và da, chúng tôi chẳng có một vật gì dài cứng để cột cánh tay lại để tránh di động. Chẳng ai bảo ai chúng tôi phân định lại chỗ ngồi để nhường anh xạ thủ đaị liên ấy một chỗ nằm hơi thoải mái trên sàn tầu. Bãi đáp là một thửa ruộng khô hướng Đông của đồi Gió và đồi 169, đoàn trực thăng cùng lúc "hover" khoảng 1 mét trên bãi đáp, chúng tôi tức tốc nhẩy xuống và tản nhanh vào bìa rừng trước mặt. Lúc này những quả đạn súng cối nhỏ của VC đã nổ quanh bãi đáp. Địch không ngờ chúng tôi đáp ở đó nên những trái đạn súng cối của chúng chưa chỉnh được mục tiêu nên không gây sự thiệt hại nào cho chúng tôi và phi hành đoàn trực thăng. Chúng tôi rải quân làm an-ninh cho bãi đáp và báo cáo về cho toán còn lại ở Lai-Khê để chọn bãi đáp khác. Trời đã về chiều, phi cơ phải tiếp tế thêm nhiên liệu nên phân toán còn lại sẽ đổ bộ trễ hơn dự định. Chúng tôi được lệnh chọn các cao-điểm và phân tán mỏng để quan sát. Buổi chiều trong rừng vắng nghe tiếng đại bác VC đều đều pháo vào An-Lộc, lúc đó còn cách chúng tôi khoảng 5 km đường chim bay. Chúng tôi không còn nghe tiếng AK và súng cối quanh suối Ró nữa nên chúng tôi đoán chỉ có các đơn vị nhỏ của VC thôi, hơn nữa có lẽ VC đoán chúng tôi đã rời khỏi suối Ró và tiến xa khỏi vị trí. Nhìn con nhà Le ã ngồi hí hoáy ghi chép nhật ký hành quân phía trước mặt, thằng Khoẻ ngồi kế bên. Chúng tôi ngồi, tay ôm súng, balô còn đeo trên lưng dựa người vào những tảng đá xanh rêu, khung cảnh thật hữu tình tự nhiên tôi quên đi cảnh chiến tranh. Tay quẹt quẹt trên khẩu M16 như đang chơi guitar, tôi hát nhỏ vưà đủ cho ba thằng nghe bản nhạc "Vó câu muôn dặm" của nhạc sĩ Văn Phụng: "Anh em ta đi muôn phương xa, non xanh bao la, ta vui câu ca những đêm xa nhà cùng ngồi bên đá. Nhịp đàn vui hoà vang khắp nơi..đem chí trai can trường..." Chúng tôi chuyền tay nhau hút điếu thuốc trong ngày sao ngon tuyệt. Một điều cấm kỵ của mùi hương nhưng làn gió nhè nhẹ thổi đúng về cái hướng Nam an toàn đã cho chúng tôi phì phà một cách thật thoải mái. Phần Liên Đoàn còn lại từ Lai Khê được trực thăng vận cách chúng tôi khoảng 1 cây số và chúng tôi hẹn gặp nhau tại đồi 169. Chúng tôi lấy phương hướng và bắt đầu zulu đến điểm hẹn, hàng dọc tác chiến, phân tán mỏng để tránh pháo. Trên lộ trình chúng tôi bị một quả bom do Không-Quân thả vào vị trí địch lại rơi gần đội hình di chuyển của đơn vị, thiếu úy Lê đình chiếu Thiện bị một mảnh xuyên qua bàn tay trái, báng súng bể được thượng sĩ Tụng trong ban quân-y băng bó. Sau đó chúng tôi tiếp tục vượt rừng để đến đồi 169.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Đồi 169 nằm ở hướng Đông Nam và cách thị xã An-Lộc 4 cây số đường chim bay, đây là một ngọn đồi có cao độ 169 mét, trên đỉnh đồi gồm nhiều tảng đá nhỏ chen lẫn những cây cối mọc rất còi cọc, tầm quan sát rất rộng rãi. Tại đây chúng tôi bắt tay được một đại đội trực thuộc Liên-Đoàn 3 Biệt Động Quân đang ém quân ở đây. Đại đội BĐQ đã chạm địch khoảng 5 ngày trước đó, lương thực của họ đã cạn, năm sáu ngôi mộ của các chiến sĩ BĐQ được chôn cách đỉnh khoảng 40m nơi có ít đá, những nấm mộ không bia nhưng mỗi đầu mộ đều có thập tự giá làm bằng cây rừng được giữ vững bằng những hòn đá nhỏ xếp dưới chân. Một số thương binh mình đầy thương tích được bác sĩ Châu và thượng sĩ Tụng chích thuốc và thay băng cho họ. Chúng tôi chia phần lương khô của mình cho đơn vị bạn. Họ đã không được tiếp tế thuốc men và lương thực trong nhiều ngày qua vì áp lực của địch quá mạnh. Vị đại đội trưởng xin lệnh về LĐ3/BĐQ để cùng tháp tùng với LĐ81/BCND trở vào An-Lộc. Thương binh của họ được tản thương về Lai-Khê cùng với th.úy Thiện. Các thương binh của BĐQ, những vết thương của họ được xoa dịu nhiều khi đoàn trực thăng khoảng 6 chiếc bay đến, hai chiếc gunship bay quanh đồi bắn phủ đầu vào đám du kích bắn sẻ, hai chiếc còn lại lao nhanh vào LZ (landing zone) chỉ định. Những thùng đạn, lương thực được thẩy xuống tiếp tế thêm cho chúng tôi, đồng thời các thương binh được đưa lên trực thăng với thời gian nhanh kỷ lục, mọi diễn biến không hơn một phút. Vị đại úy BĐQ nói với trung tá Huấn "đơn vị của trung-tá được yểm trợ ngon lành qua", trong khi trước đó anh đã xin phi vụ tản thương ba ngày qua nhưng ưu tiên chưa đến lượt. Khoảng 50 quân-nhân của đại đội BĐQ ấy tháp tùng theo LĐ81/BCND để vào tái hợp vớI LĐ3/BĐQ của họ.&lt;br /&gt;Thị trấn An-Lộc diện tích khoảng 4 cây số vuông nằm ở phía Nam Lộc Ninh, chung quanh thị trấn được bao bọc bởi rừng cao su xanh thẫm và con đường huyết mạch của thị dân là quốc lộ 13 (Con đường định mệnh) được nối từ Lai-Khê Bình Dương đến Chơn Thành, Tân Khai, An Lộc, Lộc Ninh. Từ đồi 169 chúng tôi đã nhìn thấy thành phố An-Lộc đang hứng cơn mưa pháo của VC từ Lộc Ninh, Quản Lợi và các cao điểm chung quanh rót về, từng đám bụi đỏ cùng tôn ván tung lên không hoà lẫn những cột khói đen mà tôi đoán là nhà hay các cây xăng đang bốc cháy. Nhịp độ pháo của địch tăng mạnh khi các phi vụ Hoả Long và AC-130 Spectre gunship rời vùng. Tại đồi Gió, nằm ở hướng Bắc của đồi 169 cách khoảng 3 km do đơn vị pháo binh và tiểu-đoàn 6/Lữ-đoàn 1 Nhẩy Dù đang lập tuyến phòng thủ cũng không may mắn gì hơn. Họ đang hứng chịu trận mưa pháo tập trung tới tấp khi hai chiếc trực thăng Chinook CH-47 đang cố tiếp viện cho họ hai khẩu đại bác 105mm. Tôi nhìn khẩu đại bác móc tòn ten phía dưới bụng chiếc trực thăng đang cố đáp, tụi tiền sát viên phaó của VC đã điều chỉnh những quả đạn khá chính xác vào ngọn đồi ấy, từng bựng lửa, bụi đỏ tung lên dưới thân tầu lại làm cho hai chiếc trực thăng bốc lên cao hơn, pháo ngớt hai chiếc trực thăng lại từ từ hạ thấp, cứ như thế trong vòng 15 phút hai chiếc trực thăng không thể nào thả hai khẩu đại bác xuống và đành phải bốc lên cao và bay về phía Lai Khê. Chúng tôi nhìn nhau trong nỗi thất vọng vô cùng...&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Sau khi nghỉ ngơi và quan sát, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Đường rừng núi dầy đặc, đoạn đường còn lại như đi không đến, chúng tôi tiến quân rất chậm và đề cao cảnh giác vì không dám xem thường địch. Hạn chế xử dụng truyền tin tối đa, tuyệt đối di chuyển trong im lặng, nhìn mầu áo hoa dù hoà lẫn vào mầu xanh của cây rừng lúc hiện lúc mất lại càng tăng thêm cái bí-hiểm của núi rừng u-tịch. Khi chúng tôi đến gần một bản Thượng Srok Gòn thì đơn vị đi đầu đẫn về hai người Thượng tay đang bị trói sau lưng, về sau biết họ là người dân trong bản đang về nhà để lùa trâu bò đi chúng tôi đã thả họ ngay. Trong bản Thượng hoàn toàn vắng lặng, ngườì dân Thượng hiền hoà sống xa thành thị cũng đã chạy trốn quân đội tàn ác của Bác Đảng. Chúng tôi cho hai người Thượng vài gói gạo sấy, sau đó họ lượm xác một con chó bị VC bắn chết (tội báo động) ở đâu đó trong bản đem về thui. Con chó không được làm ruột quăng vào trong đống lửa, mùi lông chó cháy bay khét lẹt. Tôi lẳng lặng đeo ba lô súng đạn rời khỏi nơi họ nướng con chó xấu số đó. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi hưởng một đêm an-lành trong bản Thượng Srok Gòn.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi miệt mài di-chuyển trong buổi sáng ngày hôm ấy, tiến quân chậm nhưng đoạn đường đã thâu ngắn thêm, rừng cây đã thưa thớt khi chúng tôi đến gần bìa rừng, những nương rẫy của nông-dân và lác đác vài căn nhà tranh xuất-hiện, lúc này chúng tôi tiến quân nhanh hơn. Căn nhà lá đầu tiên đập vào mắt tôi là xác một người dân chết bên cạnh lu nước trước cửa nhà, xác đã chương xình trong chiếc quần dài đen và cái áo trắng cũ không được ai chôn cất, mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Càng tiến vào sâu, những mái nhà tôn vách ván nằm kế cận nhau hơn, từ con đường đất tôi nhìn xuyên qua khoảng sân trống tôi thấy vài nấm mộ của những người dân xấu số mới được chôn cách đó không lâu, mùi nhang khói, tiếng khóc than của người còn sống hoà lẫn vài tiếng reo mừng: " Lính Dù tớì, Lính Dù tớì.." Tôi mĩm cười chào thân thiện, nhìn nét mặt hân hoan của họ, tôi biết họ đã đặt niềm tin vào chúng tôi, vào 550 ngườì lính 81/BCD đang âm thầm tiến sâu vào tuyến đầu lửa đạn. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Đơn vị chúng tôi được lệnh vào bắt tay với Trung-Đoàn 8/SĐ5 của đại-tá Mạch-văn-Trường. Lúc này chúng tôi phân khoảng cách giữa mỗì quân nhân khoảng 30 mét chạy nhanh vào phố chính chứ không đi nữa, tiếng đạn pháo của địch vẫn liên tục xé gió bay trên đầu chúng tôi hướng về phía tiểu-khu Bình-Long, tôi hơi ớn khi vài quả thiếu thuốc bồi nổ gần nghe chát chúa. Trên bầu trời những cánh dù lớn tiếp tế lương thực, đạn dược bay lơ lửng. Ba lô súng đạn trên ngườì nhưng tôi không còn cảm thấy nặng nữa, những giọt mồ hôi nhễ nhại chẩy dài trên khuôn mặt, lưng áo ướt đẫm, mồ hôi chẩy vào mắt, xót quá tôi vội lấy khăn tam giác buộc ngang trán để thấm đi những giọt mồ hôi quái ác ấy. Chạy gần đến bệnh viện Bình-Long, mùi tử-khí xông lên nồng nặc. Bệnh viện hoang tàn, một phần mái đã bay mất bởi bị pháo, phần ngói còn lại nằm chồng chất lộn xộn, bức tường phía trước sụp đổ cho tôi nhìn thấy một dẫy giường chiếu với chăn màn bay nhẹ trong gió. Những bức tường vôi trắng còn lại lỗ chỗ dấu đạn pháo, và hàng cửa sổ với những cánh cửa bật tung nằm xiêu vẹo. Cái cảnh thương tâm hiện ra trước mặt làm lòng tôi quặn thắt, số người dân và ngườì lính đã chết quá nhiều trong những ngày qua.Đêm 13/4/72 trong cuộc công kích vào thị xã An-Lộc đạn pháo của địch đã giết hại hơn 800 bệnh nhân và một số nhân viên trong bệnh xá. Xác của họ được ném xuống hai cái hố lớn do xe ủi đất ủi sâu, hố dài khoảng 40 mét, trong đó đầy những xác ngườì, dân có, lính có, trẻ em có. Những xác ngườì nằm chồng chất hỗn độn, xác ngườì mớì chết chồng lên xác ngườì đã chết từ nhiều ngày qua. Tôi vội ngồi bên vệ đường và ra dấu cho những bạn sau tiếp tục chạy xuống phố, moi trong ba lô lấy máy chụp ảnh và chụp hai tấm về hố chôn tập thể ấy. Mặc dù đã cố hít đầy một buồng phổ không khí từ xa nhưng mùi hôi thối của xác chết đã khiến tôi muốn nôn ọe, đám ruồi xanh bay vo ve nhặng xị và dòi bọ lúc nhúc trên thân xác ngườì. Lần đầu tiên tôi được chứng kiến cảnh những ngườì dân lành vô tội chết trong nỗi thống khổ bàng hoàng, ngạc nhiên kinh dị. Không một tiếng khóc than, không một lời kinh cầu, không một tấm bia cùng nhang khói. Tôi lâm râm khấn cầu cho linh hồn họ mau được siêu thoát và linh thiêng phù hộ cho những ngườì thân của họ còn đang khốn khổ trong binh lửa ngập trời.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;4 giờ chiều ngày 17/4/72 &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/jeep.jpg"&gt;An Lộc&lt;/a&gt; đã chào đón chúng tôi với nỗi tang thương của người dân và thành-phố tiêu điều đổ nát, xác dân lành, xác súc vật, xác Việt cộng nằm vương vãi trộn lẫn trong gạch ván. Những chiếc xe tăng T54 bị bắn cháy nằm trơ sét rỉ trên đường phố. Ngay cả đến những con bò mình mang đầy thương tích vì bom đạn đang đau đớn bước chân nặng nề trong khu phố. Duy nhất chỉ có khu phố phía Tây-Nam còn khá nguyên vẹn, đây là những nhà lầu hai tầng do trung-đoàn 8/SĐ5 tử thủ vào những ngày qua. Chúng tôi bắt tay với đơn vị bạn và được báo cáo đầy đủ về tình hình quân sự trong An-Lộc. Ba phần tư thành phố đã bị địch chiếm đóng và đang cố thủ, địch hay bắn sẻ và thổì B40, B41 từ những cao ốc còn sót lại phía đông bắc và tây bắc. Chúng tôi được lệnh nghỉ ngơi trong vòng hai tiếng sau đó sẽ tập họp để nhận lệnh hành quân mới. Trung đoàn 8 và những người dân còn lại trong phố đã tiếp đón chúng tôi rất niềm nở, họ chạy máy bơm nước giếng cho chúng tôi tắm, tiếp tế cho mỗi người lính vài gói thuốc lá quân tiếp vụ thơm. Đây là phần thưởng rất quí giá vì đã 3 ngày qua quần áo chúng tôi ướt đẫm mồ hôi, tóc tai bệt bạt. Nước giếng mát lạnh và mùi xà bông thơm làm cho tôi cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Ôi những mồ hôi và bụi phong trần từ những chốn đã đi qua đã được nguồn nước mát ở An-Lộc xoá rửa tẩy sạch. Thay bộ quân phục sạch sẽ tôi cảm thấy nhẹ nhàng thơ thới. Tôi, TS1 Luân, TS1 Lễ, TS1 Khoẻ, hạ-sĩ Sấy rủ nhau ra sân trước hưởng chút ánh nắng còn sót lại vào buổi chiều, vừa hút thuốc vừa tán chuyện gẫu thì một quả đạn B40 nổ ngay trên balcon, nhìn cái đuôi đạn còn xoay vòng vòng trên mặt đất chúng tôi lặng lẽ chuồn êm vào sau cánh cửa sắt. Cũng may chúng tôi đứng phía dưới balcon nên an-toàn. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi mang ba lô súng đạn đến bộ chỉ huy hành quân để tập họp. Tôi TS1 ban 3, TS1 Lễ ban 2, TS1 Khoẻ ban 4, hạ sĩ Bông ban 3, TS1 Luân ban 2 được chia vào toán cuả thiếu úy Đặng văn Cầm. Liên Đoàn chúng tôi với quân số tham chiến lúc ấy là 550 kể cả sĩ quan, hạ sĩ quan và binh-sĩ. Với quân số quá khiêm nhường cho nhiệm vụ chiến-trận quá lớn. Bộ chỉ huy gồm có: &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Trung-tá &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/pvhuan.jpg"&gt;Phan văn Huấn&lt;/a&gt; chỉ huy trưởng.&lt;br /&gt;Thiếu tá Nguyễn văn Lân sĩ quan phụ tá.&lt;br /&gt;Đại úy Trần văn Thọ quyền trưởng ban 3.&lt;br /&gt;Đại úy Ng.văn Mai trưởng ban 2.&lt;br /&gt;TS1 Phương ban 4 tiếp liệu.&lt;br /&gt;Thượng sĩ Phạm văn Cấp, trưởng toán truyền tin &amp;amp; mật mã&lt;br /&gt;Trung úy Lê thanh Châu bác sĩ quân y, thượng sĩ Nguyễn văn Tụng y tá.&lt;br /&gt;Trung úy Lê văn Lợi Liên toán trưởng 4 toán thám sát Lôi Vũ.&lt;br /&gt;Đại úy Nguyễn ích Đoan Đại đội trưởng ĐĐ1&lt;br /&gt;Đại úy Nguyễn Sơn Đại đội trưởng ĐĐ2&lt;br /&gt;Đại úy Hổ Xám Phạm châu Tài Đại đội trưởng ĐĐ3&lt;br /&gt;Đại úy Đào minh Hùng Đại đội trưởng ĐĐ4&lt;br /&gt;Thượng sĩ Jesse Yearta Cố vấn Mỹ&lt;br /&gt;Đại úy Charles Huggins Cố vấn Mỹ&lt;br /&gt;Trung úy Cao văn Cát, sĩ quan đề lô pháo binh tăng phái&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu và những ánh đèn pin chiếu vội vàng trên bản đồ để chúng tôi chấm toạ độ. Mục tiêu và tuyến xuất phát của các đơn vị bạn chúng tôi đã thuộc trong đầu. Sau đó chúng tôi được lệnh trở về tuyến xuất phát để chờ giờ G (Gay go theo mã tự truyền tin) chưa được công bố. Đã tám giờ tốì thành phố đắm chìm trong bóng đêm dày đặc, sự yên tĩnh của đêm đen bị khuấy động bằng tiếng nổ của đại bác VC pháo vào. Tiếng gạch ngói vỡ vụn rơi trên mái nhà tôn nghe loảng xoảng rồi chìm dần. Điệp khúc pháo của địch được lập đi lập lại mỗi 10 phút đồng hồ. Phiá nam tiếng đại bác ì ầm xa xăm vọng về từ các vùng Chơn Thành, Tân Khai. Trong khi ngồi trong bóng đêm chờ giờ G, tôi lẩm nhẩm đếm ba trăm lẻ một, ba trăm lẻ hai...khi nghe tiếng depart từ hướng bắc cho đến khi quả đạn nổ. Tính nhẩm, trong đầu tôi đoán vị trí súng của địch được đặt ở Lộc Ninh và Quản Lợi. Đúng 9 giờ tối từ máy truyền tin tôi được biết giờ G đã điểm, chúng tôi lay nhẹ vai nhau và bắt đầu tiến quân. Trên bầu trờì cũng đã xuất hiện chiếc &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/spectre.jpg"&gt;AC-130 Spectre&lt;/a&gt; yểm trợ, một trái hoả châu được thả ra từ máy bay để chúng tôi quan sát các chướng ngại vật và làm quen vớì mục tiêu trước mặt. Khi ánh hỏa châu tắt, chúng tôi bắt đầu mọ mẫm tiến về hướng Bắc của thành phố. Cái khổ của đoạn đường nầy là gạch ngói, gỗ đinh, mái tôn móp méo nằm vương vãi, mặc dù cố mở mắt lớn nhưng chuyện bước nhầm lên một miếng tôn hay miếng ván là điều khó tránh khỏi, chỉ một tiếng động khô khan đó là lập tức vài ba quả M79 thổi về ngay. Nghe tiếng súng M79 quen thuộc chúng tôi vội liên lạc vô tuyến xác nhận điểm đứng của mình và yêu cầu con cái của Hổ Xám đừng ton đạn về hướng chúng tôi, quân của Hổ Xám lúc ấy đang ở phía đông của chúng tôi, Hổ Xám xác nhận con cái của anh chưa lẩy cò và tiếng depart từ con đường bên kia khu phố, chính ĐĐ3 của Hổ Xám cũng lãnh vài quả tương tự. Sở dĩ bọn VC có được vũ khí của ta là do những chiếc dù tiếp tế bay lạc qua phần đất do chúng tạm chiếm. Chúng tôi lại dọ dẫm từng bước chân đi, tôi đã bắt kịp con nhà Lễ ở phía trước, tôi thì thào hỏi: "Chuyện gì vậy?"&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;"Hàng rào kẽm gai". Lễ trả lời. Một cái hàng rào kẽm gai cao khoảng 3 mét nằm ngay trước mặt, hạ sĩ Bông đã được Lễ đỡ cho leo qua, tôi vội vàng khoác súng trên vai chạy đến đỡ Lễ leo qua cho mau. Đến lượt mình mớì là khốn nạn vì là toán phó và cũng là ngườì sau cùng nên tôi cố đặt chân vào sát chân trụ rào bằng cây sắt nhỏ để giữ thăng bằng. Sợì kẽm gai đong đưa, thân mình tôi vắt vẻo, đang cố leo thì vài quả M79 nổ cạnh bức tường sau lưng, cái bản năng sinh tồn theo phản ứng tự nhiên cho mãi đến ngày hôm nay tôi vẫn chưa hiểu là làm cách nào mà tôi đã leo qua cái hàng rào một cái rột mà không bị một vết cào sướt trên thân thể.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Đã gần 4 giờ sáng, toán tôi còn đang bì bõm dưới đường mương cống thì được lệnh dừng quân nằm chờ tại chỗ. Cái vị trí chúng tôi đang ở thật kinh khiếp trần đời, nước và sình thối cùng mọì thứ phế thải khác cao ngập đôi giầy trận, tôi hỏi anh Cầm tại sao không tiến thêm về dẫy tường nhà trước mặt. Anh cho biết ĐĐ2 đã đóng ở đó rồi. Tôi co giãn vài ngón chân để cảm nhận đôi dớ đã thấm ướt, cái cảm giác lành lạnh tù từ thấm vào người từ hai ống quần đã bị thấm nước. Tôi cảm thấy mệt mỏi và buồn ngủ, nguyên một ngày lội quân quân từ đồi 169 cho đến giờ này tôi chưa được chợp mắt. Thần kinh tuy căng thẳng nhưng đã chào thua cơn buồn ngủ trĩu nặng, dựa lưng balô vào vách đường mương cống tôi đã thiếp đi trong tư thế ngủ đứng. Còn đang say ngủ thì những loạt đạn M60, M16, súng phóng lựu hoà lẫn tiếng AK nổ ran trong khu vực. Tôi thức tỉnh hoàn toàn, trời đã tờ mờ sáng, lúc này tôi mới có dịp nhìn rõ lại cái đường mương cống đầy rác rến đã cho tôi hơn một giờ ngủ ngon.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi đồng loạt tiến nhanh về hướng đông bắc, địch đã không ngờ rằng đêm ấy chúng tôi nằm ngay sát nách chúng. Những tiếng hô "Xung-Phong, Sát, Sát, của các chiến sĩ 81/BCND cùng những tiếng nổ từ súng cá nhân tuôn xối xả vào vị trí địch, những toán quân bạn ở vị trí trước mặt tiến quân như vũ bão. Từ trong dẫy phố trước mặt VC lố nhố chạy thục mạng lên phía bắc đang làm bia bắn cho các chiếc trực thăng &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/cobra.jpg"&gt;Cobra&lt;/a&gt;. Mùi thuốc súng quyện đặc trong buổi sáng sớm, trên không đạn khói, đạn rocket được bắn ra từ chiếc O-2 đang nhào lượn. Tiếng đại bác 105 mm, 40mm, 20mm minigun từ &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/sptac130.jpg"&gt;AC-130 Spectre&lt;/a&gt; bắn vào phòng tuyến địch nghe inh tai. Từ những cuộc hành quân thám sát xâm nhập trong lòng địch, giờ đây các chiến sĩ của LĐ81/BCND lại chứng tỏ cho địch thấy sự can trường, oai hùng trong trận địa chiến, chúng tôi đã không nao núng trong trận chiến mở màn vào buổi sáng sớm ngày 18/4/72. Tại khu đồn Cảnh Sát dã chiến với phòng thủ quân sự rất kiên cố đã bị Bắc quân chiếm đóng, những thùng phi 200 lít được đổ đầy cát, xếp hai lớp chồng lên nhau, nóc hầm được che bởì hàng vỉ sắt quân sự và 3 lớp bao cát xếp dầy lên trên. Trục tiến quân của ĐĐ2 đã khựng lại vì trước sự kháng cự mạnh của địch. Những trái đạn M79, M72 phóng vào phòng tuyến CSDC không mảy may có kết quả, nhưng không sao, đã có anh mũi lõ Jesse Yearta cao bồi Mỹ đây rồi. Thường ngày tôi không mấy thân thiện với các anh mũi lõ mắt xanh, đánh giặc theo kiểu con nhà giàu. Nhưng tôi đã thán-phục khi nhìn Yearta oai hùng đứng khơi khơi giữa đường phố ngay tuyến đầu lửa đạn vớì mình, không cầu an, chịu nguy hiểm để chỉ điểm cho đại bác trực xạ từ chiếc AC-130 bắn vào khu cảnh sát dã chiến đang đầy VC trong ấy. Tâm hồn Yearta lúc ấy chắc cũng như chúng tôi đang say men chiến thắng khi thấy lính cụ Hồ bương chạy. Từng chiếc hầm bị đạn 105mm được bắn rất chính xác từ trên trời xuống, nắp hầm bung lên và không một địch quân sống sót chạy ra, những lỗ châu mai đã im lìm tiếng AK. Sau khoảng hơn 30 phút giao tranh, chúng tôi đã hoàn toàn đẩy lui VC trong khu tây bắc thành phố. Chiến trường đã ngưng tiếng súng, những thương binh được các bạn đồng độì băng bó tạm và được chuyển về BCH để bác sĩ và y tá săn sóc.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Nhìn khuôn mặt đẫm mồ hôi của TS1 Sần A Nhì, tay trái cầm súng M16, tay phải ôm hai chân của ngườì chiến sĩ tử trận, anh lúp xúp chạy và xác người chết nằm gấp trên vai, hai cánh tay và cái đầu đong đưa theo bước chân, các bạn gần đó đã chạy nhanh lại tiếp TS1 Nhì đưa người bạn vắn số đó về BCH. Sau đó lại xác một chiến sĩ tử trận khác đã được anh em cột tay chân lại và dùng đòn khiêng luồn vào để khiêng về BCH, hình ảnh thật đau lòng, nhưng không biết làm sao hơn khi chúng tôi không có một cái băng ca để tải thương vào lúc ấy, chúng tôi phải rải quân ra để phòng thủ tuyến vừa chiếm được vớì sự hy sinh của anh, máu và thân xác của anh đã thấm vào lòng đất An-Lộc, anh đã vĩnh viễn từ giã chiến trường và gia-đình thân yêu. Chúng tôi những ngườì còn lại phải gánh lấy trách nhiệm phần đất mà anh vừa chiếm lại được. Vong hồn của anh chắc đã không giận chúng tôi đâu vì anh cũng thông hiểu được tình huống của chúng ta lúc ấy, xác của anh đã được đem về và chôn cất trong nghĩa trang của LĐ81/BCND. Chắc anh cũng mãn nguyện khi nhìn đồng đội đã chịu nhiều gian khổ, hiểm nguy trong đêm tối khi chôn cất anh. Anh biết đó trong đêm tối cạnh bến xe đò bên kia chợ, mặt nhựa đường đã không cứng hơn đôi bàn tay của người lính LĐ81/BCND. Những nhác cuốc nháng lửa trên mặt nhựa đường, lưỡì cuốc nhọn bung lên thốn vào đôi cánh tay ngườì lính. Địch từ bên kia phố đã nghe được tiếng đào xới nên đã cố câu vào đó vài quả đạn súng cối 61 hay M79, ngườì lính đồng độì vẫn không nao núng đứng đào huyệt cho ngườì bạn vắn số của mình vào nơi yên nghỉ nghìn thu. 67 anh em khác cũng nằm chung vớì anh trong nghĩa trang lịch sử đó và tại đây, tôi cũng đau buồn chia tay vớì thiếu úy Nguyễn quang Khánh, ngườì cựu toán trưởng toán 3 Delta của tôi. Trong một phiên gác đêm nhìn quanh nghĩa trang nghĩ đến anh tôi không khỏi chạnh lòng nhớ đến mấy câu thơ Chinh-Phụ-Ngâm mà tôi đã viết nghuệch ngoạc trên một vách tường đâu đó:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;" Hồn tử sĩ gió ù ù thổi&lt;br /&gt;Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi&lt;br /&gt;Chinh phu tử sĩ mấy người&lt;br /&gt;Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn".&lt;br /&gt;! ! ! ! !&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Hãy tạm quên chiến trận để cho tôi được viết vài hàng về nghĩa trang của LĐ81/BCND trong lòng phố An-Lộc.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Những ngày hạ tuần tháng 5 cũng là những ngày chiến trận đã tương đối lắng dịu, nhìn lại nghĩa trang của LĐ81/BCND đã được khang trang tu bổ do những bàn tay ngườì lính 81BCD. Chính giữa là mộ bia chính vớì câu thơ bất tử của cô Pha viết dướì bệ, chung quanh nghĩa trang là dẫy tường thấp bằng gạch sơn vôi trắng, phía chính diện, hai câu thơ cuối của Vương Hàn trong bài &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/vhan.jpg"&gt;Lương Châu Tư&lt;/a&gt;ø. được viết bằng sơn: "Tuý ngoạ sa trường quân mặc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Những người dân còn sót lại ở An-Lộc đã an toàn sinh sống trong khu vực do chúng tôi trấn đóng, họ đã dạn dĩ ra trước cửa nhà để nhìn khung cảnh điêu tàn trong khu phố. Đổ nát và đổ nát, cả một khu phố thân thuộc của họ, trước đây một tháng họ có ngờ đâu chiến tranh do Bắc quân mang lại gieo tang tóc thê lương. Thị xã mang tên hai chữ thật hiền hoà. An và Lộc. Trong cảnh thê lương đổ nát tiêu-điều ấy họ đã ngạc nhiên và xúc động mạnh khi nhìn thấy một nghĩa trang khang trang của LĐ81/BCND được xây phía bên kia đường trước căn phố của họ. Những xây dựng trước đó đã sụp đổ tan tành theo từng ngày đạn pháo tung bay. Một xây dựng mới âm thầm trong thành phố tang thương ấy bắt đầu vào ngày 18/4/72 chính là nghĩa-trang của những chiến-sĩ BCD vị quốc vong thân, vừa đánh giặc vừa xây dựng mộ bia cho những ngườì nằm xuống để không quên ơn ngườì đã cho ta thêm những ngày sống. Một bà già ngườì Trung-Hoa nói tiếng Việt hơi lơ lớ tay quẹt nước mắt nói: " Chồi oi! Con cái dà ai lến lây chết nhiều quá vậy? " Nói xong bà vào nhà đốt một nắm nhang xong trở ra quì lạy trước mộ bia và cắm nhang trên từng nấm mộ. Lờì khóc than chí tình ấy cũng là lời cám ơn chân thành tự đáy lòng của ngườì dân An-Lộc, những người dân đã sát cánh vớì chúng tôi trong hai tháng bom lửa ngập trờì ấy.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Xin trở lại buổi sáng ngày 18/4/72. Đang say men chiến thắng tôi tưởng đơn vị mình sẽ dàn quân tái chiếm nửa khu phố còn lại nhưng lệnh trên cho án binh bất động. Vì Sư đoàn 5 Bộ-Binh không còn đủ quân số để cùng tiến lên ngang hàng với chúng tôi, do đó chúng tôi đành bó tay và cuộc chiến đổi sang ngõ rẽ khác.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;An Lộc bị cô lập hoàn toàn, quốc lộ 13 bị cắt đứt, trục tiến quân của Sư Đoàn 21 và Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù bị kiền, chốt của Công Trường 7 VC ngăn cản bước tiến trong đồn điền cao-su tại Chơn Thành, suối Tàu Ô, Tân Khai trong hai tháng ròng rã. Thuốc men, lương thực, đạn dược tiếp tế vào An-Lộc bằng dù do các phi vụ C130 thả. Những cánh dù thả trên cao độ 1800 mét đã không rơi chính xác vào địa điểm mong muốn, độ giạt của gió đã đưa những chiếc dù ấy sang phần đất địch chiếm đóng, chúng tôi đành chong súng bắn lên những kiện hàng trôi lơ lững ấy. Việt Cộng cũng làm lại điều tương tự khi dù tiếp tế rơi vào vùng đất của chúng tôi (sau khoảng 3 tuần những chiếc dù biến cải với những lỗ thoát gió đã rơi nhanh và chính xác hơn vào bãi tiếp tế). &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;An-Lộc đang nằm trong sự vây hãm chặt chẽ của Bắc quân gồm các Công Trường (Sư Đoàn) 5,7, 9, và Sư Đoàn Bình-Long. Công Trường 5 gồm các trung đoàn E6, tr/đoàn 174, tr/đoàn 275. Đơn vị chủ lực Công trường 7 gồm các tr/đoàn 141, 165, 209 và trung đoàn 101 biệt lập, Công trường 9 gồm có trung đoàn 271, 272, 95C. Công trường Bình-Long bao gồm các đơn vị của Mặt Trận Giải-Phóng Miền Nam và các đơn vị chính qui 204 tùng thiết (tháp tùng chiến xa), 429 công sự phòng thủ. Sư Đoàn pháo 69 gồm có trung đoàn 208 hoả tiễn, tr/đoàn 42 pháo, tr/đoàn 271 phòng không và các thiết đoàn chiến xa 202, 203. Quân số tổng cộng của các đơn vị kể trên khoảng 50000. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi lập ngay tuyến phòng thủ ở Tây Bắc An-Lộc mới tái chiếm. &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/phaovc.jpg"&gt;Rạng sáng 19/4 địch bắt đầu pháo mạnh&lt;/a&gt; vào thành phố &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/map.jpg"&gt;An-Lộc, đồi Gió và ngọn đồi 169&lt;/a&gt;. Sau đợt pháo, các đơn vị của Công-Trường 5, 7 VC tấn công tiểu đoàn 6 Nhẩy Dù đang đóng ở đồi Gió và đồi 169..Hai cao điểm chiến lược bị tràn ngập (80 quân nhân nhẩy dù mở đường máu thoát khỏi vòng vây sau đó được trực thăng bốc về Lai-Khê. Cũng hai ngày sau đó, hai đại đội khác của tiểu-đoàn 6 Nhẩy Dù rút được về An-Lộc sau đó tái hợp với Tiểu-Đoàn 5 và 8 Dù).Từ hướng đông quốc lộ 13 Công Trường 9 là đơn vị chính tấn công vào thành-phố, chúng đã bị đánh bạt ra khỏi tuyến phòng thủ trấn giữ do SĐ5/BB, Tiểu Đoàn 5 và 8 của Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù. Sự yểm trợ của Không-Quân Hoa-Kỳ với những phi vụ B52 dội vào các điểm tập-trung của địch và những phi vụ Spectres AC-130 rất hiệu quả. Bình-minh vừa ló dạng, tiếng pháo địch rời rạc và địch đã đại bại trong trận công kích đợt hai vào An-Lộc. Một chiếc T54 lọt vào hố bom không lên được và nhiều chiếc khác đã bị phá-huỷ, đây là những chiếc tăng T54 không có bộ đội tùng thiết chạy lơ ngơ trong đêm tối đã làm mồi ngon cho những &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/m72.jpg"&gt;khẩu M72&lt;/a&gt;, phi vụ Spectres AC-130...Phía phòng tuyến chúng tôi vô sự trong đêm ấy. Trong đợt công kích đợt hai này địch đã có lợi thế khi chiếm được đồi Gió và 169. 6 khẩu đại bác 105mm để yểm trợ cho An Lộc của ta bị phá huỷ hoàn toàn. Từ những cao điểm này VC đã theo dõi được hoạt động của đơn vị bạn trong khu vực đông và nam của thành phố. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Sau cuộc tấn công đợt hai không có kết quả, địch bắt đầu chơi pháo vào An-Lộc, hàng ngày cái thành phố với diện tích còn lại khoảng 1.5 cây số vuông ấy hứng hàng ngàn đạn đại bác của VC. Lúc này phòng tuyến của chúng tôi đã vững vàng, những bức tường trong khu phố được chúng tôi đục thông từ nhà này sang nhà khác, những lỗ tường ấy cao khoảng 1 mét rộng độ nửa mét nên việc di chuyển bên trong khá dễ dàng và an-toàn. Mỗi toán được chỉ định giữ an-ninh cho tuyến của mình. Tôi được chỉ định về toán súng cối 81mm đóng ở phiá nam bộ Chỉ-Huy Liên-Đoàn cách đó một con đường. Tôi xin viết vài hàng về tổ súng cối 81 mm và sự hiệu quả của nó. Thật ra trong bảng cấp số của LĐ81/BCND không được trang bị súng cối 81mm vì đơn-vị luôn luôn hành quân thám sát ngoài tầm yểm trợ của pháo binh, các toán thám-sát và ĐĐ xung kích được trang bị vũ khí nhẹ và được yểm trợ bằng trực thăng, phi pháo,B52...Nhưng trong trận địa chiến ở An-Lộc chúng tôi đã uyển chuyển với cục diện mới.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Sau ngày 19/4 ĐĐ1 của đại-úy Đoan nằm ngay tuyến đầu ở hướng Bắc khu vực khá trống trải nên tổ súng cối 60 ly bị địch thổi B40 vào dài dài, anh cho dời khẩu cối về khu phố toán chúng tôi đang đóng. Tôi tình nguyện bắn yểm trợ súng cối 60 ly cho ĐĐ1 và chính vì sự tình nguyện ấy mà sau này khẩu súng cối 81 mm đã dính liền với tôi trên những bước đường hành quân ở căn cứ Hoàng-Đế (King), Cổ-Thành...Những trái đạn súng cối 60 rất hạn chế của ĐĐ1 đã cạn mau vào những ngày sau đó. Khui những thùng đạn tiếp tế toàn là đạn cối 81 ly nên khẩu 60 ly kể như vô dụng, đạn 81 ly chúng tôi có rất nhiều nhưng súng thì không. Đ/úy Đoan liên lạc với Tr/Đoàn 8 và vác về một khẩu 81 mm nhưng lại không có máy nhắm, sau đó thượng-sĩ Ye arta liên lạc truyền tin xin được một máy nhắm M14 còn nguyên si trong hộp. Mở hộp ra, bảng chỉ dẫn bằng tiếng Anh, tôi lại càng mù tịt. Tôi mang máy nhắm lên cho thiếu-tá Lân xem, máy nhắm quá tối tân so với những máy nhắm mà th/tá Lân đã học ở trường Võ Bị Quốc Gia Đà-Lạt. Sau đó Yearta, Huggins, th/tá Lân và tôi ngồi quanh chiếc máy nhắm để học hỏi, Yearta đọc th/tá Lân dịch và giảng cho tôi nghe công dụng của từng bộ-phận. Tôi hiểu được đại-khái hướng nhắm, chiều cao, độ giạt, tầm xa, đọc bảng xạ biểu, thuốc bồi v.v...Tôi, Lễ, Bông,Khoẻ và các bạn khác được giao trọng trách cho khẩu cối 81 ly đó. Sự yểm trợ chính xác của toán súng cối chúng tôi cho liên-toán thám sát, ĐĐ1,2,3,4 nên được các bạn âu yếm gọi là B52 cầm tay. Tuy nhiên một điều thật đáng tiếc đã xẩy ra, trong khi bắn súng cối yểm trợ cho ĐĐ4 do tr/úy Nguyễn khoát Hải làm đại đội trưởng (đ/úy Đào m Hùng đã bị thương). Những quả đạn không thuốc bồi trong tầm đạn đạo gần đã làm tr/úy Hải và một số binh sĩ ĐĐ4 bị thương, trung úy Lê đắc Lực lên nắm quyền ĐĐ trưởng ĐĐ4.&lt;br /&gt;Hầm súng cối được đào sâu khoảng.8 mét ở sân sau nhà thuốc tây, quanh sân được bao phủ bằng bức tường gạch cao hơn đầu người. Hầm đạn cũng được đào cạnh hầm súng cối, phía trên được che đậy bằng các thùng gỗ chứa đầy cát. Thường thì trên đài quan sát (vị trí nhỏ trên tầng lầu BCH được chất bao cát chung quanh)th/tá Lân làm sĩ quan tiền sát cho đội súng cối của chúng tôi. Sau hai ngày bắn súng cối, tôi đã quen thuộc với khẩu súng và máy nhắm M14. Độ chính xác của súng là 25 mét cho mỗi ly-giác, thế nhưng đã có lúc, qua máy truyền tin đ/úy Đoan nói:ỏtừ tác xạ vừa rồi, Trái 3 métõ đã làm tôi chưng hửng.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Mục tiêu gì? Tôi hỏi&lt;br /&gt;-Hầm ve chai (Việt Cộng). Đ/úy Đoan trả lời. Làm sao tôi chỉnh được bên trái 3m đây? Tay run run nhích vòng xoay ống nhắm với sự ước tính trong đầu, chỉnh bọt nước thăng bằng xong tôi liên lạc vô tuyến:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Smoke sẵn sàng&lt;br /&gt;-Go&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Một tiếng nổ bụp nhỏ của đạn khói nghe vọng lại từ xa. " Ngay chóc" tiếng anh Đoan reo vui qua máy truyền tin PRC25&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Cho anh 3 delay&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Hạ-sĩ Bông tay bóc thuốc bồi và vặn lại nút nổ chậm trên đầu trái đạn, chúng tôi bắn 3 trái đạn đi. Sau đó anh Đoan cho biết đạn đã đào sâu xuống đất trước khi nổ, hầm sụp chôn trong đó hai tên VC và một tên khác bỏ chạy bị lính của anh dứt sữa cụ Hồ. Thế nhưng VC đâu có để cho khẩu cối của chúng tôi tung hoành như thế được. Từ khu phố hướng đông, chúng đã biết vị trí súng của chúng tôi. Vì có nhiều mục tiêu chỉ cách hầm súng chúng tôi khoảng 400 mét, và những trái đạn không thuốc bồi bay lắc lư trên không làm cho chúng nhắm hướng và biết đích xác vị trí của chúng tôi. Vào một buổi trưa th/tá Lân gọi máy cho toán tôi ra tác xạ. Nồi cơm và nồi canh rau đã chín trên bếp chúng tôi chưa kịp ăn. Tôi và các bạn ra hầm súng, nhận lệnh và chỉnh súng vào mục tiêu mới. Chờ gần 10 phút nhưng vẫn chưa có lệnh tác xạ. Tôi bốc máy vô tuyến gọi:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Mạnh-Điệp đây Kiều-Giang&lt;br /&gt;-Mạnh Điệp nghe. th/tá Lân trả lời&lt;br /&gt;-Chừng nào tác xạ?&lt;br /&gt;-Chờ ở đó.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Vài ba quả đạn khói 82 ly của VC bắn vào từ khu rừng phía Tây đã nổ ngoài tường rào. Chúng tôi đang đói bụng nên mang máy truyền tin vào nhà ăn cơm vừa trực máy luôn thể. Lệnh th/tá Lân là lệnh sắt nên tôi cũng ớn bị xài xể, nhưng từ nhà sau ra hầm súng cối chỉ cách độ 15 mét, thuốc bồi đã bóc sẵn, súng đã chỉnh xong. Nếu có lệnh bắn chúng tôi sẽ tác xạ trong vòng nữa phút. Bưng nồi cơm và canh để trên sàn xi măng, thời gian chưa được 3 phút, chúng tôi chưa xới được bát cơm đầu thì một tiếng Oành, nổ ngay hầm súng cối chúng tôi, thêm một quả nữa nổ gần hầm đạn thứ hai. Qua khung cửa sổ, tôi nhìn thấy lửa đã bắt cháy ở đuôi đạn súng cối, những tiếng trái đạn cối của chúng tôi thi nhau nổ sau đó. Đám thương binh nằm ở nhà sau với toán chúng tôi được các bạn khác lôi nhanh qua lỗ tường sang nhà khác. Lúc đó bọn tôi coi chẳng giống con giáp nào, mình khoác áo giáp, mặc quần xà lỏn chân đi dép vì buổi trưa nóng, vớt cái nón sắt móc vội lên đầu tôi phóng sang nhà bên cạnh giật máy bơm nước. Con nhà Khoẻ giúp tôi liên lạc vô tuyến báo cáo về BCH. Tay cầm ống nước tôi cố thu người bên này tường chỉ chừa đôi mắt và cái nón sắt trên đầu tường để chữa cháy, những trái đạn bung nổ nhưng chỉ nổ ở phần thuốc bồi chính trong đuôi đạn nhưng cũng đã cho tôi cái cảm giác thế nào là dựng tóc gáy, ai nào biết được những trái đạn vô tình ấy sẽ nổ ở phần nào. VC chắc đang đắc chí khi nghe những tiếng nổ phụ và khói bốc lên ngùn ngụt từ hầm đạn chúng tôi. Sau khi chữa đám cháy xong, một cảnh thương tâm mà tôi chẳng bao giờ quên được. Tôi ra hầm súng để thu thập sự thiệt hại vừa qua, một con chó trắng vá đen đang ư ử rên rỉ nhìn tôi xin cầu cứu, đôi mắt của con vật đã nói lên tất cả sự van xin giúp đỡ, hai chân trước gẫy lìa xương lòi ra ngoài, mỗi lần cố đứng là mỗi lần té quỵ xuống. Tôi chạy xuống bồng nó trên tay vỗ về, nó nằm yên trên đôi tay tôi rên khe khẽ, tôi đem vào khu nhà có nhiều dân ở trong đó để kiếm chủ nhưng không ai biết tông tích của nó. Con chó vào hầm súng của chúng tôi để ăn phần thịt hộp bạn nào ăn dở dang còn để lại trong ấy. Anh Tụng sau khi xem xét vết thương cho nó và lắc đầu, anh nói cho nó một phát đạn để nó khỏi bị đau đớn nữa. Tôi không đủ can đảm để kết liễu đời sống con chó đáng thương ấy khi ánh mắt nó đã in sâu đậm trong lòng tôi. Tôi quay trở lại hầm súng cối để dọn dẹp, sau lưng một tiếng súng nổ. Tôi bỏ luôn bữa cơm chiều hôm ấy.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Việc tải đạn súng cối cũng có nhiều chuyện nguy hiểm lý-thú. Những viên đạn tôi bắn đi là mồ hôi nước mắt nhọc nhằn của toán tải đạn, đồng đội từ các ĐĐ trong Liên-Đoàn thay phiên nhau lên sân vận động (bãi thả dù tiếp tế) vác đạn về chất trong hầm súng của toán tôi. Mỗi khi có dù tiếp tế họ đã chịu nguy hiểm để lặn lội dưới mưa pháo trên con đường dài gần 2 cây số, lên xuống hai ba chuyến trong ngày. Nằm lâu một chỗ tôi đâm ra cuồng cẳng, ngoài giờ canh gác hay tác xạ, tôi, Khoẻ, Lễ hay lên khu vực của đ/úy Sơn chơi. Qua khu bến xe lam 3 bánh, TS1 Khoẻ nẩy ngay ý định lấy một chiếc đem về cho toán tải đạn, xe phần nhiều bánh bị bể vì miểng pháo, có một chiếc vỏ xe còn nguyên vẹn, đạp máy thử thấy nổ ngon lành. Sau khi dọn sơ những chướng ngại để chạy xe ra, ngồi trước tay lái tôi rồ mạnh ga chờ hai thằng bạn lên xe thì một ông trung úy bộ binh án ngay trước mặt:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Ê! Ăn cắp xe hả?&lt;br /&gt;-Không, tôi lấy xe về cho toán tải đạn súng cối của Liên-Đoàn 81. Tôi trả lời ông tr/úy&lt;br /&gt;-Đây là xe của dân thuộc khu trách nhiệm của tôi, anh không được quyền lấy với bất cứ lý do gì.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Lúc này là tiêu thổ kháng chiến trung úy biết không? Tôi không lấy cái xe này để làm của riêng mà là công ích chung. Nhà cửa đổ nát, người dân chết lên chết xuống bản thân trung úy còn chưa biết ngày về thì xá gì chiếc xe này. Tôi la lớn.&lt;br /&gt;-ĐM. Anh không được quyền lấy xe của dân. Anh lấy xe tôi bắn! viên trung úy la lớn lại&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Lúc này thì máu nóng trong người tôi sôi lên, tôi nhẩy ra khỏi xe đứng trước mặt người sĩ quan bộ binh đó và nói như thét gào:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-ĐM. Ngon ông bắn tôi đi, nói cho ông biết tôi nể cấp bậc của ông chứ không sợ ông đâu. Đạn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phát cho ông để bắn VC chứ hù tôi làm gì? ĐM.Ông không hiểu bốn chữ "tiêu thổ kháng chiến" mà mang lon trung úy thì nhục nhã quá. Chúng tôi sẽ có người đến trưng dụng chiếc xe lam này&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Tôi giận dữ bước nhanh về khu vực của chúng tôi, trên đường về bọn tôi gặp đ/úy Mai tôi vội trình bày cớ sự. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Để tao qua đó. Đ/úy Mai trả lời. Sau khi đ/úy Mai đi, khoảng 15 phút sau, chiếc xe lam chạy về đậu trước khu phố toán chúng tôi. Gặp tôi ông cười hỏi:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;"ĐM. mày nói gì nó? mà nó nói thằng em của đ/úy lỗ mãng quá nên tui không giao xe?"A ra ông tr/úy bộ binh ghét cái bản mặt và thái độ khiếm nhã của tôi nên chơi tôi cho bỏ ghét. Anh tr/úy bộ binh ơi! Nếu anh còn sống và đọc được những giòng này xin anh nhận nơi đây lời xin lỗi chân thành của tôi về thái độ lỗ mãng ngày hôm ấy.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;TS1 Khoe û lúc này đã làm trưởng nhóm tiếp tế đạn dược và lương thực cho LĐ81/BCND, nhờ có chiếc xe lam 3 bánh đó mà tôi hay theo con nhà Khoẻ lên khu sân vận động tải đạn và dịp đó tôi gặp được TS1 Hùng bạn cùng khoá ở Đồng Đế năm 69. Gặp lại nhau tay bắt mặt mừng, Hùng lúc này làm trong ban 4 tiếp liệu ở Tiểu Khu Bình-Long, gặp tôi nó chuồi nhanh cho một cây thuốc quân tiếp vụ thơm, hạnh phúc quá trời ơi! Những ngày qua bọn thằng ghiền thuốc lá như tôi đã lấy giấy báo cũ vê thuốc cẩm lệ còn sót lại trong các tiệm tạp hoá để hút cho đã cơn ghiền, dù những bành thuốc rê, thuốc xỉa được chúng tôi ngâm nước cho bớt nặng, sau đó lại sao trên chảo cho khô phun rượu và tẩm mật ong để tăng thêm hương vị, nhưng mỗi khi hút vào là một lần khé cổ. Số phận chiếc xe lam ba bánh chạy trên lộ-trình chông gai đó cũng chẳng được lâu. Mỗi lần chạy qua con dốc gần khu bệnh viện là mỗi lần VC cố bắn vào chiếc xe cà khổ đó, một phần trên mặt đường đầy các chướng ngại vật, một phần VC trên cao ốc khu phố hướng đông bắn vào, chiếc xe chở đạn nặng nề nhưng nhờ xuống dốc nên tốc độ cũng khá nhanh dần. Tóc! Tóc! Tóc! Tóc! Tiếng đạn AK trúng phần dưới ghế toé lửa, hộp số bị bể chiếc xe khục khặc giật lên giật xuống, Khoẻ tay trái bóp bộ phận nhả số cho trớn chiếc xe chạy hết con dốc sau đó lủi xe vào gần bên bức tường của ngôi nhà. Máy xe còn nổ nhưng hộp số không còn xử dụng được. Bọn tôi bỏ lại chiếc xe về gọi đồng đội lên khiêng đạn về. Sau đó một thương-gia trong khu phố đã tặng cho chúng tôi chiếc 1 xe Ladalat mới tinh để thay thế chiếc xe lam 3 bánh đó, chúng tôi cám ơn và o bế chiếc xe này rất kỹ, chúng tôi dọn một căn nhà có cửa sắt để đậu xe trong đó. TS1 Khoẻ chạy xe mới thích lắm vì tốc độ nhanh và dễ điều khiển nhưng số phận của chiếc xe cũng không sống lâu hơn xe lam 3 bánh la bao lâu. TS1 Phương một hôm lấy xe đi tải lương khô và hỏi tôi muốn lên TK Bình-Long không? Tôi đáp không vì đang cùng con nhà Lễ lên ĐĐ2 thăm anh Sơn. Trên đường về qua nhà xe chưa thấy xe đậu trong đó tôi hơi lấy làm lạ vì thời gian đi lấy lương thực hay đạn dược thường không hơn một giờ rưỡi. Tôi và Lễ đi dọc xuống khu Tr/Đ8 thì gặpTS1 Phương đang lội bộ về. Tôi hỏi:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Xe đâu?&lt;br /&gt;-Hả?&lt;br /&gt;-Xe đâu? tôi hỏi lại&lt;br /&gt;-Hả? TS1 Phương đưa khuôn mặt lại gần mặt như không hiểu câu tôi hỏi. Tôi tưởng TS1 Phương đang đùa với tôi khiến tôi nổi cáu:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Xe đâu?&lt;br /&gt;-Pháo banh rồi. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Phương trả lời và ngoắc tay ra hiệu cho chúng tôi theo. Nhìn TS1 Phương không bị thương dáng đi đứng còn nhanh nhẹn tôi cũng mừng thay cho anh nhưng một bên tai đã bị điếc vì đạn nổ. Giữa con dốc cách không xa lắm với cái xe lam là chiếc Ladalat nằm lật nghiêng bên phía tài xế, những thùng lương khô lăn đổ trên đường. Bên kia hông xe mang đầy lỗ thủng của đạn pháo, nhìn chiếc xe bằng sắt nằm chỏng gọng tôi đã không biết ơn trên nào đã che chở cho anh Phương trong quả đạn nổ ngay cạnh chiếc xe lúc ấy. Hết xe chở đạn các chiến-sĩ 81/BCD đi kiếm xe ba gác nhồi giẽ cứng vào vỏ bánh để xử dụng cho các chuyến tải đạn súng cối sau này.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Giữa các ĐĐ của LĐ81/BCND và Việt Cộng mà giới tuyến cách nhau chỉ có một con đường, bắn sẻ, bắn tỉa, dùng súng cối để pháo vào đơn vị VC bên kia đường. Chúng tôi đã chiến đấu trong cái cảnh đó nhiều tuần lễ sau này cho đến nửa đêm 11 tháng 5. &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/phaovc.jpg"&gt;Địch pháo như mưa bấc&lt;/a&gt; vào thành phố từ nửa đêm cho đến 4 giờ sáng khoảng 8000 quả đại bác, nhịp độ khoảng 5 giây cho mỗi trái, chúng pháo cho chúng tôi không ngóc đầu lên được để chuyển quân, đạn đại bác nổ vang rền chát chúa trong khu phố. Cách tôi hai căn phố khu nhà dân trúng một quả pháo, có tiếng khóc la của các em nhỏ vì sợ hãi khi thấy người bị thương, sau này tôi nghe nói cô Pha bị thương trong đêm ấy nhưng điều này tôi không dám khẳng định vì chỉ nghe nói lại thôi. Hình như còn bao nhiêu pháo địch bắn hết đêm nay hay sao mà tôi đã nghe có những quả đạn không ngòi nổ rơi xuống mặt đất rồi dội văng lên trúng vào tường nhà đập bể cả khối bê tông. Đến 4 giờ rưỡi sáng tự nhiên tiếng pháo im bặt, sự yên lặng bao trùm ghê sợ, mùi thuốc đạn đại bác còn bay khét lẹt. Lại chiến thuật tiền pháo hậu xung, chúng tôi ngồi chong mắt chờ cuộc xung phong của con cháu bác Hồ. Đến 5 giờ sáng VC lại bắt đầu pháo lại như mưa, sau đó thêm vài phút, chúng bắt đầu tấn công từ mọi mặt, nhưng trục tiến quân chính từ Bắc xuống Nam bên khu vực hướng Đông do hai ĐĐ3 &amp;amp; 4 của LĐ81/BCND trấn đóng. Từ hướng Tây, địch chọc thẳng vào phòng tuyến của LĐ81/BCND và Tr/Đ8/SĐ5BB. Đạn giao tranh nghe ác liệt, những &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/b52.jpg"&gt;phi vụ B52&lt;/a&gt; thả bom chỉ còn cách thành phố khoảng một cây số rưỡi, trong ngày hôm ấy 30 phi vụ B52 thả quanh thành phố ì ầm vang dội, trên bầu trời lúc nào cũng có 2 phi tuần F-4 hay &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/a37.jpg"&gt;A37&lt;/a&gt; với những quả bom hạng nặng và bom bi chống tấn công biển người, (bom bi là hàng trăm trái bom nhỏ lớn hơn quả bida một chút và sơn đủ màu trông rất đẹp mắt nhưng công dụng của màu sắc là để đánh dấu thời gian ngòi nổ cháy, những quả bom nhỏ này được dồn vào một quả bom lớn, khi quả bom lớn nổ mới tung ra hàng trăm quả bom nhỏ đó trên diện tích rộng lớn rồi mới thi nhau nổ liên tiếp như pháo tết).VC gặp sức kháng cự dũng mãnh của LĐ81/BCND và phi pháo đành phải rút lui để bổ sung quân số. Cũng trong ngày hôm ấy hai máy bay trực thăng &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/cobra_1.jpg"&gt;COBRA&lt;/a&gt; và hai phi cơ quan sát O-2 bị hoả tiễn tầm nhiệt SA-7 bắn rơi bên phía Tây của phòng tuyến LĐ81/BCND. Địch đang đào công sự chiến đấu bên kia rừng, các ĐĐ của 81/BCND theo dõi được nên Đ/úy Huggins cho biết 3 tiếng đồng hồ nữa sẽ có 2 path B52 thả vào khu vực đó. Khu vực thả bom chỉ cách tuyến phòng thủ của các toán LĐ81/BCND 600 mét và cách BCH chúng tôi đang đóng là 800 mét. Đến giờ B52 trên vùng oanh kích, chúng tôi được đ/úy Huggins cho biết 5 phút nữa bom sẽ thả. Sau tiếng "NOW" từ máy PRC25 chúng tôi nghe tiếng bom cắt gió "víêuu víêuu ûvíêuu víêuu víêuu viêuu " trên không rơi xuống, tôi vội nằm sấp người, hai tay bịt chặt vào lỗ tai, cùi chỏ chống xuống, giữ ngực cho hỏng khỏi mặt đất, tránh sức rung. Tiếng &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/bomb.jpg"&gt;bom&lt;/a&gt; nổ gần làm rung chuyển nhà cửa, mặt đất rung động dữ dội, không khí bị sức ép làm tôi khó thở, tôi không còn biết là hai phi vụ ấy đã xong chưa vì người còn như chưa tỉnh hẳn. Thành phố tối sầm lại vì đám bụi mù dầy đặc đang bay cao dần và che lấp ánh mặt trời. Những người dân trong khu vực chúng tôi cũng được chỉ cách bảo toàn thân thể khi B52 thả bom gần, nhưng cũng có nhiều trẻ nhỏ cũng bị máu rỉ ra từ tai và mũi. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Đêm 12/5 địch lại tấn công nhưng lần nầy yếu ớt và rời rạc, quân số của các công trường 5/7/9 đã thiệt hại quá nặng nề. Nhất là vào đêm 11/5 một trung đoàn của VC đã hứng chính đạn pháo của pháo binh họ. Một binh sĩ ĐĐ3 ở tuyến đầu kể cho tôi nghe: " Tụi nó đông như kiến, tiến lên thì gặp hàng rào kẽm bị tụi mình bắn nên tụi nó rút lui để chuẩn bị bangalore phá rào, chiến xa càn qua khỏi hàng rào bị M72 rang ngay tại chỗ. Cùng lúc đó tụi nó lãnh trái pháo ngay toán quân, không may cho tụi nó là thằng sĩ quan đề lô và thằng mang máy truyền tin chết, một thằng VC khác chạy lại chụp máy truyền tin chửi: ""Địt mẹ các anh pháo lộn rồi, các anh pháo lộn rồi, ngưng pháo ngay, ngưng pháo ngay"" nhưng khi toán pháo binh VC hỏi mật mã để xác nhận thì thằng VC này không biết. Chúng tưởng bọn mình vô được tần số của chúng để gọi ngưng pháo, chúng tưởng đã trúng mục tiêu nên lại càng pháo dữ dội hơn, khi không mà chúng ta " bất chiến tự nhiên thành".&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Cũng trong đêm ấy tôi rời khẩu súng cối đã hết đạn để trở về gác bên khu bệnh xá của LĐ81/BCND, phiên gác 4 tiếng đồng hồ của tôi dài lê thê. Quân số bất khiển dụng càng nhiều thì giờ gác cũng tăng lên, sĩ quan cấp trung úy cũng lãnh 4 chỉ hay 2 chỉ gác như ai. Trong tiếng đạn nổ tơi bời, tôi ngồi dựa lưng vào thành bao cát trong phiên gác đêm. Nhưng làm sao tôi ngăn được giòng lệ tuôn rơi, khi nghe tiếng rên xiết đau đớn não nề của một thương binh rất trẻ từ tuyến đầu đưa về.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;" Bố ơi, mẹ ơi, các em ơi chắc con không được về được để gặp bố mẹ, con đau đớn quá, con nhớ bố mẹ quá. Ôi đau đớn quá." Mười phút sau lại tiếng người thương binh "Chúa ơi! Con biết hôm nay Chúa gọi con về, con đã làm gì nên tội mà Chúa cho con sự đau đớn khôn cùng nầy, Chúa ơi xin Chúa cứu vớt linh hồn con".&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Có tiếng lục đục trong khu bệnh xá và tiếng hỏi khẽ của th/sĩ Tụng "Morphine đâu?" Sau đó tôi không còn nghe tiếng rên của người thương binh. Tôi ngồi suy nghĩ miên man đến gia-đình ở Đà-Lạt và người yêu ở Sài-Gòn. Chuyến đi vào An-Lộc quá đột ngột, tôi không có thì giờ để viết thư ngắn ngủi để gửi về cho những người thân yêu đó. Tôi cũng như người thương-binh trẻ kia đều có nơi chốn để về, để vui mừng xum họp, để hàn huyên tâm sự sau mỗi chuyến hành quân hay những ngày nghỉ phép. Nỗi nhớ nhung người yêu quay quắt trong lòng, chồng thư tôi viết cho người yêu, cho gia-đình mỗi ngày mỗi dầy thêm trong ba lô. Những lá thư gói ghém thương yêu, kể chuyện vui buồn đời lính, những suy tưởng vụn vặt, đã không có phương tiện gửi về trong hai tháng đó. Người yêu và gia đình tôi giờ này chắc đang ngủ say trong giấc điệp, họ có biết đâu tôi đang ngồi ôm súng gác giặc mà giòng lệ tuôn tràn cho thân phận người thương binh trẻ ấy. Tiếng kêu thương nhớ gia-đình trong cơn đau đớn của anh có ai nghe, ngoại trừ tôi. Tôi không biết gia đình anh ở đâu? người yêu của anh thế nào? Họ có biết những ý nghĩ trong tim óc anh và có nghe những lời thương nhớ của anh vào lúc 4 giờ sáng ngày 12/5/1972 ở An-Lộc không? Một giờ đồng hồ sau tôi lại nghe tiếng người thương binh:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;" Thượng sĩ Tụng ơi? Thượng sĩ Tụng ơi? Đỡ tôi dậy cho tôi đi đái" Giọng nói của người thương binh nghe rất rõ và bình thường chứ không còn đau đớn nữa. Có tiếng chân người xê dịch chậm trong bệnh xá trong vòng năm bẩy phút.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Cám ơn thượng-sĩ. Tiếng người thương binh.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Mãn phiên gác tôi trở vào BCH và ngủ vùi. 7 giờ sáng gặp anh Tụng tôi hỏi ngay về số phận người thương binh ấy.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Chết rồi.&lt;br /&gt;-Bốn giờ sáng còn gọi anh đưa đi đái mà. Tôi hỏi.&lt;br /&gt;-Sau khi đi đái trở về chỗ nằm cũng là lúc anh ấy chết... Vết thương ở bụng quá nặng...&lt;br /&gt;-!!!!!!!!&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Những chuyện đau thương, vui buồn, chuyện dùng mưu trí để đánh nhau với VC ở trong An Lộc đã có quá nhiều trong tâm khảm người lính chúng tôi, mỗi ngày, mỗi đêm, mỗi giờ là tim óc chúng tôi lại in thêm những sự kiện mới. Cuộc chiến thật buồn cười, trong lúc những người lính LĐ81/BCND và VC đã sống trong cùng căn phố, chúng tôi chẳng phải đi tìm địch ở đâu xa, mỗi khi thức dậy sau giấc ngủ là có thể đi rình mò tỉa địch được rồi. Cơm gạo sấy và thức ăn đóng hộp ăn mãi cũng chán, đã có một vài người bạn bị phù thủng. Chúng tôi thèm rau một cách kinh khủng, những cây chuối sau vườn nhà đã được cắt sát gốc, lõi được xắt ra để làm nộm trộn chung với thịt hộp, ôi cái món nộm mộc mạc nhưng ngon vô cùng. Khoảng 5 hay 7 ngày sau chúng tôi lại ăn được món này nhờ những chồi chuối non mọc lại. Có những người dân liều mạng ra các bờ mương, ruộng cạnh khu phố hướng tây để háí rau, họ quơ cào cắt vội cho vào thúng mang về. Họ cho tổ súng cối chúng tôi một ôm rau muống, hạnh phúc hay thiên đường ở đâu tôi chưa biết, nhưng bó rau muống ấy đã cho chúng tôi những bữa cơm thịnh soạn nhất trần đời. Chỉ ngắt đi những chiếc lá bị ủng, cái cuống và lá hơi vàng cũng cho vào chảo xào luôn. Tôi đã sợ thịt heo vào những ngày đầu trong chiến trận, khi nhìn thấy những con heo không chủ xổng chuồng đang tạp tạp cái đùi một tên VC chết đã chương xình, làm tôi thấy lợm giọng. Vài ngày sau mấy tay thợ nhậu trong toán truyền tin đem về nguyên cái đầu heo luộc để nhâm nhi, nhìn lại cái đầu heo luộc, nhớ đến con heo bữa đó, tôi gắp các món khác cho chắc ăn....&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Ngày 12/5 địch vẫn pháo cầm chừng khoảng 2000 trái mỗi ngày vào An-Lộc và sau đó thưa dần. Sau ngày 16/5 các phi vụ B52 và phi pháo truy kích địch đã xa hơn ngoài thành phố. Ngày 29/4 từ phía Nam quốc lộ 13, SĐ21/BB, LĐ3/ND đã tiến đến Chơn-Thành và hai tuần sau đó, các đơn-vị bạn đã bứng chốt, kiền của Công-Trường 7 và vượt qua khỏi Chơn Thành hơn 8 cây số về hướng An-Lộc. Tại quốc lộ 13 trung-đoàn 15 của SĐ 9/BB/VNCH đã bọc hậu vào công-trường 7 VC để cùng SĐ21/BB dùng thế gọng kìm, nhưng trong vòng 3 tuần lễ Trung-Đoàn 15 đã bị xe tăng, pháo, bộ đội của Công Trường 7 đánh tan nát. Trung Đoàn này chỉ còn 120 quân nhân sống sót và tất cả đều bị thương.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Ngày 16/5 SĐ21BB và LĐ3/NDù đã tiến đến Tân-Khai, các đơn vị tăng phái còn cách An-Lộc 10 cây số. Ngày 8/6 các đơn vị trong An-Lộc tấn công vào khu phố VC chiếm, chúng chém vè vào các khu bìa rừng ở hướng,Tây và Bắc. Liên Đoàn 81/Biệt Cách Nhẩy Dù đã anh dũng cắm quốc-kỳ thân yêu trên ngọn đồi Đồng-Long.&lt;br /&gt;Tin từ hậu-phương cho biết, tổng thống Nguyễn văn Thiệu tu&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;yên bố tất cả những quân nhân tử thủ ở An-Lộc, mỗi người đều được thăng một cấp đã làm cho những người lính đang chiến đấu ở An-Lộc ngạc nhiên và phấn khởi. Tr/úy Cao văn Cát, người pháo binh tăng phái cho LĐ, đã dậy tôi vài ngón đàn guitar classic khi cuộc chiến ở đó đã tạm lắng dịu. Mỗi khi gặp tôi, tr/úy Cát thường nói đùa:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Mày còn trẻ quá mà đeo lon thượng sĩ coi chừng bị quân cảnh bắt đó, ai mà tin được.&lt;br /&gt;-Thôi đi ông nội, cố thượng sĩ thì có. Tôi đùa lại, tôi chợt buồn cười khi nghĩ đến hình ảnh một ông thượng sĩ thường là già tuổi đời trong binh nghiệp, một ông thượng sĩ ở hậu cứ ngày ngày đạp xe đạp từ khu gia-binh vào doanh trại tập họp, bên hông đeo cái bi đông đựng đầy rượu đế với sợi dây thắt lưng TAB to bản, hình ảnh ông thượng sĩ lè phè đó làm tôi thối chí, không còn muốn nghĩ đến cái lon thượng sĩ nữa....&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;An-Lộc đã trải qua những ngày u-ám, những nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt trắng xanh của người dân vì thiếu nắng. Nỗi vui mừng hân hoan đến khắp nơi, dân chúng đã túa ra đường lên những khu nhà cũ hỏi thăm nhau. Những giọt nước mắt vì vui mừng, vì tang thương lẫn lộn. Những người bị thương trong thành phố An-Lộc không phân biệt dân hay lính đã được trực thăng tải thương về Lai-Khê vào lúc này. Thật tội nghiệp cho những người thương tật ấy, có những vết thương sơ sài nhưng vì tình trạng thiếu thuốc men, vệ sinh mà vết thương đã có dòi bọ lúc nhúc. Mỗi chuyến trực thăng tản thương là nỗi vui mừng của người dân người lính bị thương và cũng là hạnh phúc tuyệt vời của những người lính còn ôm súng trong lòng phố, những lá thư, thùng quà từ hậu phương được tới tấp gửi đến, chúng tôi thật sự đã nối liền liên lạc với đời sống bên ngoài.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Mỗi lần gập TS1 Khoẻ từ khu tiếp vận về là tôi hỏi:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Có thư không mày?&lt;br /&gt;-Chuyến này chưa có&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Rồi sự nôn nóng mong đợi thư từ trong lòng mọi người cuối cùng rồi cũng đến, Nhìn những thùng giấy dán kín bên ngoài có chữ ĐĐ1, ĐĐ2...BCH...Lệnh Tr/Tá Huấn gọi các ĐĐ cử quân nhân đại diện lên lấy thơ. Tôi từ bên tổ súng cối thót nhanh về BCH. Đây cũng là phút giây khổ sở nhất nhưng cũng là vui nhất trong những ngày ở An-Lộc. TS1 Khoẻ rút dao đi rừng giọc thùng thư và bắt đầu phân phát, nó đọc to tên những người nhận :&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Hạ sĩ Nguyễn văn Sấy&lt;br /&gt;-Đ/úy Trần văn Thọ...&lt;br /&gt;————————————-&lt;br /&gt;————————————-&lt;br /&gt;Có một xấp thư hơi dầy Khoẻ nhíu mày xong nó kẹp bên nách nói "thơ của ĐĐ2 bỏ lộn thùng". Sấp thơ trên tay nó vơi dần, tôi hồi hộp, chơi vơi hụt hẫng, sao không có tên tôi? Lá thư sau cùng được trao đi thế là hy vọng tôi tan thành mây khói. Nhìn nét mặt chẩy dài thiểu nảo của tôi thằng Khoẻ lấy xấp thư kẹp ở nách ra và dõng dạc đọc: &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Thân gửi chiến binh đa tình Đỗ đức Thịnh. Tim tôi thót lại, thư của người yêu tôi. Tôi mừng rỡ phóng tới nhưng Khoẻ xô tôi ra, tay phải cầm xấp thư đưa cao lên. Nó nhìn tôi vưà cười vừa nói cái giọng của người Phan-Rang:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;"Hay, ỏng cooi! ĐM.Thuốc lá đâu? phải dâng rồi mới có thơ chớ hehehehe". Móc gói thuốc quăng cho nó nhưng thằng con chỉ móc một điếu rồi bắt tôi phải đi mời hết tất cả mọi ngườI trong BCH. Tôi khổ sở vừa đi mời thuốc mà lòng thì nôn nóng, sau khi mời hết xong nó tỉnh bơ ra lệnh cho tôi:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Ngồi đó hút thuốc đi chú em để tao đọc thơ em mày cho.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-ĐM. Đưa thơ đây cho tao. Tôi vưà nói vưà cố giằng thư nhưng nó né tránh rất tài tình. Cả bộ chỉ huy theo dõi hai thằng từ những giây phút qua, coi bộ ai cũng nghiêng về phe con nhà Khoẻ. Đ/úy Thọ ngôn cái giọng Bắc kỳ nhừa nhựa:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Ậy y y! Làm gì mà nóng để thằng Khoẻ nó đọc cho nghe, chiến binh đa tình ngoài phong bì thì nội dung cái thư hấp dẫn đây, chuyện tình love story đến chương 9 rồi đây.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Thằng Khoẻ được nước bèn tỉnh bơ xé bức thư của &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/anloc/amour.jpg"&gt;người yêu tôi&lt;/a&gt; ra đọc:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Sài gòn ngày..tháng..năm 1972. Chữ anh yêu được con nhà Khoẻ đọc: -Anh yếu xìu, thuốc tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn đâu hay súng cối anh hết đạn? Ủa, mà không phải ờ ờ Anh Yêu, anh yêu đó nghen... Cả bộ chỉ huy cười ran, thằng Khoẻ được thể pha trò:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-ĐM. Thơ em mày viết chữ gì khó hiểu quá, thôi để tao phụ đề Việt ngữ cho tiện việc sổ sách. Nhìn thằng Khoẻ nham nhở đọc thư người yêu tôi cho mọi người trong BCH nghe mà tôi đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Nó chế biến thêm thắt, giảng giải, thêm vào đó mấy ông thần trong BCH góp lời phụ hoạ làm cho mọi người cười nghiêng ngả. Tôi cũng hoang mang không biết nó thêm thắt chỗ nào nữa, đọc xong cái lá thư cuối nó ném xấp thư về phía tôi xong cười ngạo nghễ và biến mất qua lỗ tường nhà. Tôi nhặt xấp thư và vọt nhanh về bên tổ súng cối. Lúc này tôi có đủ sự yên lặng để đọc những &lt;a href="http://bcdlldb.com/vkn/tranletter.htm"&gt;giòng thư thương mến.&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Giã từ An-Lộc!&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Buổi sáng sớm ngày 24/6/1972 Liên Đoàn 81/BCND được lệnh triệt xuất khỏi An-Lộc, đơn vị tập họp ở trước nghĩa trang LĐ81/BCND. Phía sau đoàn quân LĐ81/BCND là những người dân trong khu phố chúng tôi trấn thủ vào những ngày qua. Trước hàng quân Tr/Tá Huấn cám ơn tất cả các đơn vị, dân quân đã sát cánh chiến đấu cho thị xã An-Lộc vào những ngày qua và sau đó là một phút mặc niệm cho anh linh tử sĩ của những người vị quốc vong thân. Chúng tôi lặng lẽ rời phố An-Lộc bỏ lại sau lưng những ánh mắt đầy nhân ái. Tâm tư tôi lúc ấy thật bùi ngùi luyến tiếc, cái luyến tiếc mênh mông không tả được, sự sống, sự chết, chiến tranh, hy vọng,và thân phận con người...&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Dọc theo quốc lộ 13 xác người dân chết trải dài trên mặt lộ vì đạn pháo của VC. Tất cả ai trốn chạy chúng đều bị khép vào tội theo Mỹ Nguỵ. Xác một em bé trai khoảng 10 tuổi nằm giữa mặt lộ, thịt đã rữa đi hết chỉ còn lại lớp da khô đen bóng ôm lấy bộ xương. Em nằm đây đã bao lâu nào ai biết, sương nắng đã phơi khô cái thân hình trông thảm thương đó. Đôi mắt tuổi thơ chỉ còn hai lỗ sâu hoắm được che ngang bằng da vành mi khô cứng. Em có tội tình gì???&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Đ/úy Thọ ra lệnh cho tôi và Lễ làm hướng dẫn viên cho phi đoàn trực thăng đáp. Tôi trong toán 1, Lễ toán hai. Tôi, Lễ chuẩn bị kiếng chiếu và panel để xác định điểm bốc, toán 1 chuẩn bị lên tầu đã nằm rãi hai bên quốc lộ 13, toán 2 tiếp tục di chuyển. Từ xa tiếng động cơ trực thăng quen thuộc vọng về, tiếng động cơ lớn dần và vang vọng, tôi chạy ra đứng giữa đường phất panel ra hiệu cho đoàn trực thăng giảm dần cao độ để tiến về hướng tôi, nhìn trước kính lái tôi đứng nghiêm chào nhân viên phi hành, xong chạy nhanh vào ẩn mình thấp bên vệ đường. Toán 1 lên tầu một cách nhanh chóng nhưng tôi có cái cảm tưởng như đoàn trực thăng chưa đáp đã bay dài theo quốc lộ 13 xuôi về Nam. Vài quả súng cối 82 ly pháo vào nhưng còn cách chúng tôi khoảng 200 mét. Lúc này tôi và Đ/úy Thọ lại là cái đuôi của toán 2 nên lẽo đẽo theo toán chờ cho đến khi trực thăng đến. Trực thăng vận đợt 3, sau khi ra hiệu cho chiếc trực thăng đầu hover trên quốc lộ, tôi phóng mình ngay xuống hố bom khá sâu giữa đường để tránh pháo, Oành, Oành, Oành. Từ dưới hố bom ngửa mặt lên trời tôi thấy đoàn trực thăng vút qua nhanh trên hố bom và xa dần. Nhẩy ra khỏi hố bom chợt thấy hai quân nhân LĐ81/BCND còn nằm đó tôi hỏi:&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;-Sao không lên tầu?&lt;br /&gt;-Em bị thương. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Đưa bàn tay đầy máu người chiến binh trẻ trả lời, còn người kia nằm bất động. Tôi la lớn ỏGọi thượng sĩ Tụng gấp có lính bị thươngõ người lính bị thương ở đùi không đi được nhưng còn tỉnh táo, người lính thứ hai nằm theo thế nghiêng, anh vẫn còn thở, đôi mắt mở và trong cái nhìn xa vắng vào phía cuối con đường định mệnh, quốc lộ 13, đôi mắt không phải là mất hết tinh anh mà là đôi mắt của sự ngạc nhiên cùng cực. Người chiến binh đó chỉ bị một miểng pháo thôi, không một giọt máu chẩy từ vết thương. Anh đã bị miễng pháo xuyên từ dưới bệ sườn bên phải xuyên lên tim. Oái ăm thay cái miểng đạn đã đi giữa kẽ hở bên hông cái áo giáp anh đang mặc trên người. Thượng sĩ Tụng tay bắt mạch nhưng lắc đầu buồn bã. Hai phút sau th/sĩ Tụng đưa tay vuốt mắt cho người chiến binh chết vào giờ thứ 25 đó. Đôi mắt của người chiến-binh Liên-Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù khép lại...Từ giã An-Lộc... Anh đã từ giã An-Lộc trong ngày tàn cuộc chiến.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Toán tôi sau cùng cũng lên trực thăng bay về Lai-Khê để rồi từ đó tôi lại cùng đơn-vị ra tuyến đầu lửa đạn ở Đại Lộ Kinh Hoàng, Mỹ-Chánh, Thạch-Hãn, Cổ-Thành...Những địa danh đã đi qua để lại trong tôi quá nhiều kỷ-niệm. Đời quân ngũ không có gì là sung sướng, chúng tôi đã tìm lấy niềm vui trong gian khổ, đã nhẫn nại trước thử thách gian truân, và những éo le cay đắng của đời quân ngũ đã tạo cho tôi lòng thương yêu, mến phục những con người đã một thời được gọi là Lính Việt-Nam Cộng-Hoà.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Viết tại Boise, ngày 30/04/98.&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/302179957027946240-7631785418934859122?l=anloc72.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/7631785418934859122'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/302179957027946240/posts/default/7631785418934859122'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anloc72.blogspot.com/2009/08/hai-thang-tu-thu-loc.html' title='Hai tháng tử-thủ An-Lộc'/><author><name>quanbao18</name><uri>http://www.blogger.com/profile/16305558577772188899</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_lqQVYX_gHcU/SpsRRbH9cyI/AAAAAAAAA1k/ycRux6QN_pE/s72-c/Do+Duc+Thinh+(81BCD).jpg' height='72' width='72'/></entry></feed>
